Luận văn: Quyền công tố & kiểm sát điều tra án có bị can là người DTTS ở Hà Giang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là hai chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Chúng đảm bảo rằng các vụ án hình sự được xử lý đúng pháp luật, đặc biệt là khi có bị can là người dân tộc thiểu số. Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này là cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác của VKSND.

1.1. Khái niệm quyền công tố và kiểm sát điều tra

Quyền công tố là quyền của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Kiểm sát điều tra là hoạt động giám sát của VKSND nhằm đảm bảo việc điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

1.2. Vai trò của VKSND trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số

VKSND có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân tộc thiểu số trong quá trình điều tra và truy tố. Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng họ được thông báo về quyền lợi và có sự hỗ trợ pháp lý cần thiết.

II. Thách thức trong thực hành quyền công tố tại Hà Giang

Tỉnh Hà Giang có nhiều thách thức trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số. Những khó khăn này bao gồm sự thiếu hiểu biết về pháp luật và rào cản ngôn ngữ.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật

Nhiều người dân tộc thiểu số không nắm rõ các quy định pháp luật, dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng.

2.2. Rào cản ngôn ngữ trong quá trình điều tra

Việc thiếu phiên dịch viên trong các phiên điều tra có thể dẫn đến việc bị can không hiểu rõ các câu hỏi và quy trình, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, cần áp dụng các phương pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng công tác của VKSND.

3.1. Tăng cường đào tạo cho cán bộ kiểm sát

Đào tạo chuyên sâu cho cán bộ kiểm sát về quyền lợi của người dân tộc thiểu số và các quy định pháp luật liên quan là rất cần thiết.

3.2. Cải thiện quy trình điều tra và truy tố

Cần có các quy trình rõ ràng và minh bạch trong việc điều tra và truy tố các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra tại Hà Giang cho thấy nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng chỉ ra những hạn chế cần khắc phục.

4.1. Kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố

Trong giai đoạn 2010-2014, VKSND tỉnh Hà Giang đã đạt được nhiều kết quả trong việc thực hành quyền công tố, đặc biệt là trong các vụ án có bị can là người dân tộc thiểu số.

4.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc thực hiện quyền công tố, cần rút ra bài học kinh nghiệm để cải thiện.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Kết luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số tại Hà Giang cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác này trong tương lai.

5.1. Đề xuất giải pháp cải cách tư pháp

Cần có các giải pháp cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, đặc biệt là đối với các vụ án có bị can là người dân tộc thiểu số.

5.2. Tương lai của công tác thực hành quyền công tố

Công tác thực hành quyền công tố cần được tiếp tục cải thiện để đáp ứng yêu cầu của xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKSND có hai chức năng là THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của THQCT, kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng. Để từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào là Q CT, THQCT, thế nào là kiểm sát hoạt động điều tra, đối tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.

Khái niệm quyền công tố Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138). Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981. Như vậy, trong các hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”. Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án" [ 49, tr.

9 Từ điển Luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [50, tr 188]. Từ năm 1960 đến nay, ở nước ta tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về QCT nhưng khái quát lại có một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất, đồng nhất khái niệm QCT với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi có Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Có thể thấy quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét QCT. Quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT.

Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu các cơ quan Nhà nước sửa chữa những vi phạm pháp luật của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (một thời chúng ta gọi là kiểm sát chung) cũng là THQCT. Bởi vậy có nhiều nước gọi VKS là Viện công tố. Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành kiểm sát từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành.

Theo chúng tôi, hiểu khái niệm QCT theo quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng QCT với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật và cũng không phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các luật. Theo quy định của pháp luật nước ta thời kỳ trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS có hai chức năng rất cụ thể: chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng THQCT. Trong quá trình thực hiện, cho dù giữa hai chức năng này có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau nhưng không vì thế mà phủ nhận được thế mà phủ nhận tính độc lập của 10 chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng. Bởi lẽ đó không thể đồng nhất hai chức năng này của VKS với nhau.

Quan điểm thứ hai, QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án (TA), thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố). Quan điểm này đã nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện QCT và chỉ thực hiện duy nhất là tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức chỉ là việc truy tố và buộc tội tại phiên tòa). Theo chúng tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi QCT và không phản ánh được đầy đủ bản chất quyền này. Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS sát tại phiên tòa chỉ là một nội dung của hoạt động THQCT, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một số trong các quyền hạn của VKS khi thực hiện quyền công tố [45, tr.22 - 24] Quan điểm thứ ba, QCT là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND [16, tr.

Những người theo quan điểm này cho rằng, QCT được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Theo chúng tôi, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của QCT, đã đồng nhất QCT với những quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động.) Quan điểm thứ tư, QCT là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài 11 hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, QCT do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội.

Theo chúng tôi, quan điểm trên đã đồng nhất khái niệm QCT với nguyên tắc tố tụng hình sự đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới: mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến lợi ích chung của toàn xã hội, do đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, cơ quan công tố, Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án). Hiểu khái niệm công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong TTHS. Mỗi hoạt động trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giải đoạn cụ thể của quá trình TTHS.

Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ CQĐT và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều là chủ thể THQCT [45, tr. Quan điểm thứ năm, QCT là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và, QCT là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [20, tr. Theo quan điểm này, QCT chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện QCT khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau.

Với tư cách là một quyền năng của 12 Nhà nước, QCT được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm TTHS, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Sự tồn tại QCT trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan, bởi vì, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật; và sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán. Theo quan điểm trên, QCT trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thể ở các quyền của VKS như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế.), quyền yêu cầu TA hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án.QCT trong các hoạt động tố tụng khác nhau không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện. Trong TTHS, thực hiện QCT có nghĩa là Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với con người phạm tội cụ thể, còn trong các hoạt động tố tụng khác, THQCT được hiểu là việc Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật tương ứng.

Như vậy, sự buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người khác. Quan điểm thứ sáu, QCT là quyền của Nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra TA để xét xử, vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Sự can thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước là phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công. Quyền lực công được Nhà nước giao cho cơ quan nào phụ thuộc vào từng kiểu Nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ