Chương 1: KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRỮ TÌNH 1. Thế giới nghệ thuật 1. Thế giới nghệ thuật là thuật ngữ khoa học thuộc thi pháp học hiện đại, nhấn mạnh tính đặc thù, khu biệt và toàn vẹn của tác phẩm nghệ thuật Với khái niệm này, người ta nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật như một thế giới sáng tạo, thống nhất giữa chủ quan và khách quan. Vào khoảng thập kỷ 70 của thế kỷ XX, khái niệm thế giới nghệ thuật xuất hiện ở một số công trình nghiên cứu như: “Thế giới nghệ thuật của M.
Gorki”, “Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp”. và nhanh chóng trở thành đối tượng khám phá đầy lý thú cho giới nghiên cứu, giúp việc tiếp cận tác phẩm văn học tránh được khuynh hướng chủ quan, lệch lạc. Thực ra nội hàm của khái niệm thế giới nghệ thuật được đề cập đến từ lâu. Xưa kia người Trung Quốc đã biết gọi tác phẩm thơ là một “cõi ý”, “cõi thơ”.
Lưu Hiệp trong công trình tiêu biểu “Văn tâm điêu long” (khoảng năm 496 – 497) đã đưa ra “lục quan” bao quát cả nội dung và hình thức, tính tư tưởng và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học. Theo Lưu Hiệp thì tác phẩm văn học phải gồm sáu tiêu chí “1. Tình cảm sâu mà không dối; 2. Phong thái trong mà không tạp; 3.
Việc chắc mà không ba hoa; 4. Nghĩa thẳng mà không quanh co; 5. Thể gọn mà không rườm rà; 6. Văn đẹp mà không dâm” [24, tr.
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Arixtôt trong “Nghệ thuật thơ ca” khi bàn về kịch cũng xác định: “Bi kịch là sự mô phỏng một hành động quan trọng và trọn vẹn có một qui mô nhất định nhờ vào ngôn ngữ – ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự trau chuốt khác nhau. 34], và: “Bất cứ bi kịch nào cũng có bài trí, cốt truyện, văn từ, bố cục, âm nhạc và tư tưởng nữa. Tuy vậy suốt một thời gian dài, ý nghĩa nội hàm của khái niệm chưa thực sự được bàn đến một cách đầy đủ và chi tiết, dẫn đến hiện tượng hiểu sai, hiểu phiến diện, suy diễn dung tục,. trong nghiên cứu, phê bình văn học.
13 Ở nước ta từ vài chục năm trở lại đây, khái niệm thế giới nghệ thuật trở nên quen thuộc. Năm 1981, trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” được biên soạn để giảng dạy cho học viên cao học tại Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học khác, Trần Đình Sử khẳng định: “Tác phẩm toàn vẹn xuất hiện như một thế giới nghệ thuật” [61, tr. Cũng trong công trình này, tác giả đã nêu rõ cơ sở khoa học của việc dùng từ “thế giới” chỉ tác phẩm văn học và sơ bộ nêu cách hiểu khái niệm “thế giới nghệ thuật”, đồng thời phân tích các yếu tố của thế giới bên trong tác phẩm văn học. Thời gian gần đây, hàng loạt công trình nghiên cứu văn học sử dụng khái niệm này.
Có thể kể đến “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” của Nguyễn Đăng Mạnh (1994); “Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945” của Lê Quang Hưng (1996); “Những thế giới nghệ thuật thơ” của Trần Đình Sử (1997); “Thế giới nghệ thuật thơ của Hàn Mặc Tử” của Chu Văn Sơn (2000);. Đó đều là những công trình nghiên cứu có giá trị, khẳng định sự đúng đắn của một hướng tiếp cận văn học đang được chú ý hiện nay. Thế giới nghệ thuật là gì? “Từ điển thuật ngữ văn học” (Nhiều tác giả – NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội năm 1997) đã trình bày khái niệm này qua một số điểm cơ bản sau: 1.Là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật; 2. Là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật; 3.
Có không gian và thời gian riêng, có quan hệ xã hội riêng; 4. Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật. Dưới đây chúng tôi xin trình bày cụ thể những điểm cơ bản của khái niệm vừa nêu như sau: 1. Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật “Chỉnh thể” vốn là một khái niệm triết học và “Tính chỉnh thể” được hiểu là “Khái niệm đặc trưng cho tính thống nhất nội tại, toàn vẹn, đầy đủ, biệt lập của khách thể.
Sự tổng hợp những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của khách thể tạo ra tính thống nhất bên trong nó, tính độc lập, biệt lập của nó đối với 14 môi trường xung quanh” [48, tr. Khái niệm này đã được giới nghiên cứu văn học sử dụng như một thuật ngữ chuyên ngành trong nghiên cứu. Trong cuốn “Lí luận văn học” tập 2, chương XI, Trần Đình Sử đã đề cập khá cụ thể khái niệm chỉnh thể và tính chỉnh thể trong văn học. Khái niệm chỉnh thể ở đây tuy có được mở rộng hơn nhưng vẫn thống nhất với quan niệm chỉnh thể của triết học: “Chỉnh thể là một tổng thể gồm các yếu tố có mối liên hệ mật thiết nội tại, tương đối vững bền, đảm bảo cho sự hoạt động của nó với môi trường xung quanh” [44, tr.
Như vậy nói tới chỉnh thể là nói tới thể toàn vẹn, thống nhất, trong đó mọi yếu tố được đặt trong mối liên hệ biện chứng lẫn nhau. Chỉnh thể được hiểu như sự “liên kết siêu tổng cộng”, giữa các yếu tố bao giờ cũng có chất keo dính đặc biệt liên kết chúng lại để tạo nên một “sinh mệnh” với nội dung, chức năng, đặc tính mới vốn không thể có khi các yếu tố tách rời ra. Như vậy, tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật biểu hiện sự thống nhất mọi yếu tố đa dạng trong sáng tác đó: Thống nhất giữa chủ quan và khách quan, giữa hiện thực và lý tưởng, giữa nội dung và hình thức. Cần thấy rằng tính chỉnh thể của sáng tác không chỉ giới hạn trong một tác phẩm mà rộng hơn là chỉnh thể của nhiều tác phẩm, của cả một trào lưu hay thậm chí chỉnh thể sáng tác của một thời đại, một dân tộc.
Trong một chỉnh thể lớn có thể bao hàm nhiều chỉnh thể ở các tầng bậc nhỏ hơn. Những chỉnh thể nhỏ này tác động bổ sung, chi phối và hỗ trợ lẫn nhau theo một qui luật nhất định, tạo nên một thế giới hết sức phong phú, phức tạp nhưng thống nhất. Thế giới đó là kết tinh quá trình tư duy nghệ thuật của nghệ sĩ, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong của họ thành hiện thực văn hóa xã hội khách quan để bạn đọc suy nghĩ, chiêm nghiệm. Nói đến “tính chỉnh thể” của sáng tác văn học, người ta thường nói đến sự thống nhất giữa hình thức và nội dung.
Nhà nghiên cứu văn học Nga Biêlinxki nói: “Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung thì nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung ra khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức” [44, tr. 15 Như vậy, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học vừa là hệ quả của sự thống nhất nội tại trong tác phẩm, vừa là quy luật chỉnh thể của tác phẩm. Nhìn thế giới nghệ thuật qua tính chỉnh thể có nghĩa là chúng ta thừa nhận cấu trúc nội tại của nó. Đã là chỉnh thể thì phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất.
Mặc dù hiện nay giới nghiên cứu văn học chưa xác định cụ thể cấu trúc chỉnh thể tác phẩm văn học như một chuẩn mực, song sự tồn tại của cấu trúc, phần ổn định nhất của chỉnh thể nghệ thuật là không thể phủ nhận. Chỉnh thể nghệ thuật là một cấu trúc của nhiều cấu trúc với các cấp độ từ thấp đến cao. Tính chỉnh thể khiến cho các yếu tố trong thế giới nghệ thuật chi phối lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau; chỉ cần một trong các yếu tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của một loạt các yếu tố khác. Chẳng hạn thời trung đại ở Việt Nam người ta quan niệm con người là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, thiên nhiên.
Bởi vậy con người thấy chân dung mình trong thế giới thiên nhiên: mắt phượng, mày ngài, vóc mai, dáng liễu, tóc mây,. Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện thường trực trong văn học trung đại như là những chuẩn mực để diễn tả cái đẹp. Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, Kiều xuất hiện với “làn thu thủy, nét xuân sơn”; Thúy Vân thì “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”; Từ Hải “râu hùm, hàm én, mày ngài”; Kiều làm thơ thì “tay tiên gió táp mưa sa”; Kim Trọng khóc người yêu: “vật mình vẫy gió tuôn mưa”. Có thể lấy một ví dụ khác về tính chỉnh thể trong thơ Đường luật nói chung.
Thơ Đường luật do qui định về số câu, số chữ, niêm luật chặt chẽ tạo nên bố cục gọn gàng, ổn định, chi phối đến việc sử dụng chi tiết, hình ảnh, xây dựng hình tượng theo khuôn mẫu có sẵn đậm tính tượng trưng,. Như vậy, chỉ khi nào mọi yếu tố của sáng tác nghệ thuật tồn tại trong sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một qui luật nhất định thì mới tạo nên một thế giới nghệ thuật thực sự. Thế giới nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra từ những nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật Thế giới nghệ thuật tồn tại trong sự phân biệt với thế giới thực tại, thế giới tâm lí. Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người, vừa mang ý nghĩa 16 khách quan vừa thấm đẫm tư tưởng chủ quan của người sáng tạo ra nó.
Ý nghĩa khách quan của thế giới nghệ thuật thể hiện ở bức tranh đời sống được mô tả trong đó. Đồng thời từ bức tranh này, chúng ta còn thấy được sự cảm nhận của tác giả về cuộc đời và con người. Có nghĩa là dưới cái nhìn của nghệ sĩ, thế giới thực tại đã bị khúc xạ khi đưa vào tác phẩm, mang ý nghĩa chủ quan độc đáo. “Thế giới nghệ thuật bao giờ cũng khác với thế giới thực tại để không hòa tan vào thực tại.
sự khác biệt cũng là một phương tiện biểu hiện ý nghĩa của nó” [61, tr. Thế giới này tuy nhiên không phải là sản phẩm của sự hư cấu tùy tiện mà nó được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm văn học là một kết cấu phức tạp với nhiều bình diện, nhiều cấp độ chi phối và phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, ứng với mỗi cấp độ sẽ có những nguyên tắc xây dựng từng bình diện của chỉnh thể nghệ thuật.