MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, khi nói đến lứa tuổi học sinh, dƣ luận nói rất nhiều đến những cụm từ nhƣ: bạo lực học đƣờng; quan hệ tình dục sớm; vi phạm pháp luật, nghiện game/internet,. Một kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam năm 2011 cho thấy, tỷ lệ học sinh nói dối cha mẹ ở bậc tiểu học là 22%, THCS: 50%, THPT: 64%. Còn số liệu do Vụ trƣởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Bộ GD-ĐT TS Phùng Khắc Bình cung cấp, qua cuộc điều tra 500 em học sinh THCS ở quận 6, TP.HCM cho thấy 32,2% học sinh có thái độ vô lễ với thầy, cô giáo; nhiều học sinh chỉ chào thầy cô khi ở trong trƣờng còn ra ngoài thì coi nhƣ không quen biết, 38% học sinh thƣờng xuyên nói tục.[6] Bên cạnh đó, theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội năm 2011 thì tình hình tội phạm do ngƣời chƣa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dƣới 18 tuổi thực hiện có chiều hƣớng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60%; từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi chiếm khoảng 32% và dƣới 14 tuổi chiếm khoảng 8% trong tổng số các vụ phạm tội do ngƣời chƣa thành niên và trẻ em thực hiện.[21] Có thể nói rằng, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên nói chung và của học sinh THPT nói riêng đang ngày càng gia tăng và phức tạp khiến cho cộng đồng xã hội có những bất ổn nhất định và các bậc phụ huynh, nhà trƣờng có rất nhiều lo ngại.
Học sinh THPT tuổi từ 15-18 tuổi, thuộc lứa tuổi vị thành niên. Xét về tâm lý lứa tuổi, hầu hết các học thuyết tâm lý cho rằng đây là giai đoạn mà tâm lý con ngƣời có những biến đổi hết sức phức tạp. Các em đang ở trong sự chuyển biến giữa trẻ con và ngƣời lớn, giữa sự phụ thuộc và độc lập. Sự phát triển của cơ thể tuổi dậy thì, đặc biệt là sự phát triển của các hooc môn sinh dục 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com càng khiến các em ở độ tuổi này có thể bị mất cân bằng tâm lý.
Điều này có thể dẫn tới những rối loạn về cảm xúc, hành vi thiếu kiểm soát ở thời kì vị thành niên. Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi vẫn còn cắp sách đến trƣờng. Chuẩn mực nhà trƣờng có tác động rất lớn tới việc hình thành nhân cách của các em. Những hành vi lệch chuẩn xã hội nghiêm trọng nhƣ: gây tổn thƣơng nghiêm trọng cho ngƣời khác, giết ngƣời, lừa đảo.
hẳn là sẽ bắt đầu từ những hành vi lệch chuẩn học đƣờng. Hiện nay, công tác hỗ trợ những em học sinh có hành vi lệch chuẩn (HVLC) đã và đang đƣợc trƣờng phổ thông quan tâm với nhiều biện pháp khác nhau nhƣng không phải lúc nào những biện pháp ấy cũng mang lại hiệu quả. Hành vi lệch chuẩn cũng là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời và đằng sau nó có rất nhiều thứ cần đƣợc lắng nghe và phân tích, vì vậy, bên cạnh những biện pháp quản lý, giáo dục. thì tham vấn tâm lí cũng là một trong những biện pháp để góp phần giải quyết vấn đề này.
Chính vì những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: “Tham vấn cho học sinh trung học phổ thông có hành vi lệch chuẩn học đường ” làm luận văn Thạc sĩ của mình với mục đích tìm hiểu thực trạng về hành vi lệch chuẩn của học sinh THPT, tổ chức tham vấn cá nhân và đánh giá tác động của nó cho những học sinh có hành vi lệch chuẩn trong trƣờng học. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những khuyến nghị cho các trƣờng học, các phòng tham vấn học đƣờng, cho cán bộ tham vấn, cho phụ huynh… để cùng đƣa ra những biện pháp giúp phòng ngừa và can thiệp khi học sinh có hành vi lệch chuẩn học đƣờng nói riêng và hành vi lệch chuẩn xã hội nói chung. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tƣợng nghiên cứu Quá trình tham vấn cho các học sinh THPT có hành vi lệch chuẩn học đƣờng.
Khách thể nghiên cứu - 221 em học sinh trƣờng THPT X – huyện Y – tỉnh Bắc Giang - 03 giáo viên THPT X - 04 ngƣời làm cán bộ tƣ vấn học đƣờng Tổng: 227 ngƣời 4. Mục đích nghiên cứu Từ việc tìm hiểu về thực trạng học sinh THPT có hành vi lệch chuẩn học đƣờng và sự can thiệp bằng tham vấn tâm lý cho học sinh trên địa bàn nghiên cứu, chúng tôi đƣa ra kết luận và khuyến nghị cho công tác tham vấn học đƣờng, cũng nhƣ đối với công tác giáo dục của nhà trƣờng và gia đình nhằm tạo ra những thay đổi tích cực ở những em học sinh có hành vi lệch chuẩn. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Xây dựng cơ sở lý luận 5.
Một số nghiên cứu về tham vấn cho học sinh THPT có HVLC học đường 5. Làm rõ các khái niệm công cụ * Khái niệm Tham vấn học đường * Khái niệm Chuẩn mực học đường * Khái niệm Hành vi lệch chuẩn * Khái niệm Hành vi lệch chuẩn học đường * Vấn đề điều chỉnh hành vi lệch chuẩn qua tham vấn tâm lí * Một số đặc điểm tâm lí của học sinh THPT 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu thực trạng học sinh THPT có HVLC học đƣờng 5. Tiến hành tham vấn và đánh giá hiệu quả tham vấn cho một số trƣờng hợp học sinh có hành vi lệch chuẩn 5.
Kết luận và khuyến nghị 6. Phƣơng pháp nghiên cứu - Nghiên cứu tài liệu - Phỏng vấn sâu - Sử dụng bảng hỏi - Xử lí số liệu định lƣợng bằng phần mềm SPSS - Quan sát - Tham vấn trực tiếp - Nghiên cứu trƣờng hợp 7. Giả thuyết nghiên cứu Hầu hết các em có hành vi lệch chuẩn học đƣờng khi đƣợc tham vấn tâm lí đều có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, công tác tham vấn cho những đối tƣợng này gặp rất nhiều khó khăn và thách thức.
Giới hạn của đề tài nghiên cứu 8. Chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trên khách thể chính là học sinh trƣờng THPT X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trong phần thực trạng HVLC học đƣờng của học sinh, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích những hành vi có mức độ vi phạm cao ở 4 nhóm HVLC. Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tiến hành tham vấn với một số trƣờng hợp nhất định (6 trƣờng hợp).
Việc lựa chọn thân chủ tham vấn sẽ do giáo viên chủ nhiệm giới thiệu, mỗi lớp 1 em. Trong đề tài của mình, chúng tôi chỉ mô tả 3 trƣờng hợp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Một số nghiên cứu về tham vấn học đƣờng Trên thế giới, tham vấn học đƣờng đƣợc nghiên cứu và xây dựng mô hình tham vấn tại trƣờng học đã hơn một trăm năm. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, các nhà tham vấn học đƣờng đầu tiên phải đƣơng đầu với nhu cầu hƣớng nghiệp gia tăng trong cuộc cách mạng công nghiệp. Nhận thấy nhu cầu đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực hƣớng nghiệp, Frank Parsons đã tổ chức ra khoa nghề nghiệp ở Boston vào năm 1908, nơi đào tạo ra các giáo viên và những ngƣời khác có chức năng tiến hành hƣớng nghiệp [36]. Từ sự khởi đầu này cũng nhƣ cuốn tài liệu “Ngƣời sáng lập các hƣớng dẫn nghề nghiệp” đƣợc công nhận rộng rãi, nỗ lực đầu tiên của Parsons giúp xác định và khởi đầu một lĩnh vực mới, đó là tham vấn hƣớng dẫn.
Công việc của ông có ảnh hƣởng to lớn đến nền giáo dục Mỹ và thúc đẩy sự lan rộng của định hƣớng nghề nghiệp trong hệ thống trƣờng học ở nƣớc Mỹ (Aubrey, 1977). Nhƣ vậy, có thể nói công tác hƣớng nghiệp đƣợc thực hiện bởi các giáo viên với tƣ cách nhà tham vấn hƣớng nghiệp. Đó là sự khởi đầu của tham vấn học đƣờng ở Mỹ và sau này đƣợc phát triển rộng khắp trong toàn xã hội. Mới đầu, các giáo viên chỉ đảm nhận công việc tham vấn nghề nghiệp nhƣng do sự phát triển của xã hội, họ đã đảm nhận nhiều vai trò hơn bao gồm tham vấn sức khỏe tâm thần, tƣ vấn, sắp đặt các dịch vụ… Khi tham vấn học đƣờng phát triển thì các cuốn sách, công trình nghiên cứu về tham vấn học đƣờng cũng ngày một xuất hiện nhiều hơn.
Trong số những tác phẩm đó có thể kể đến Gerald Caplan ngƣời đã công bố cuốn sách có tính bƣớc ngoặt gợi mở và đề cập đến việc sử dụng tham vấn vào trong học đƣờng qua cuốn sách mang tên Lý thuyết và thực hành tư vấn ức khỏe tâm thần (The Theory and Practice of Mental Health Consultation năm 1970) [36]. Nội 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung cuốn sách có đề cập đến các vấn đề tƣ vấn về sức khỏe tâm thần và tạo ra nhiều cảm hứng cho những ngƣời quan tâm đến tham vấn, đặc biệt là các nhà nghiên cứu có cơ hội phát triển lý thuyết và ứng dụng các quan điểm của Gerald Caplan vào các hoạt động tham vấn sức khỏe cộng động trong nhiều tổ chức khác nhau nhƣ doanh nghiệp, bệnh viện, trƣờng học,… Gần đây, Gerald Caplan (1993) đã đề cập đến sự hợp tác trong tham vấn. Ông cho rằng, một ngƣời làm tƣ vấn chuyên nghiệp trong một tổ chức (ví dụ nhƣ những nhà tham vấn học đƣờng hay các nhân viên công tác xã hội) sẽ ít có cơ hội phát huy các chức năng, nhiệm vụ nếu không có sự hợp tác với tổ chức nơi mình đang làm việc vì họ vẫn phải chịu sự quản lý của tổ chức nên tính độc lập trong hoạt động sẽ bị chi phối và vai trò hiện hiện của ngƣời chuyên nghiệp sẽ giảm đi. Meyers và các đồng nghiệp của ông (Meyers, 1981, 1986, 1989; Meyers et al.,1993; Meyers & kundert, 1988; Meyers et al.1979; Meyers & Parsons, 1984) đã viết một cách bao quát về làm thế nào mà các phạm trù của tƣ vấn sức khỏe tâm thần có thể đƣợc sử dụng trong thiết chế nhà trƣờng.
Meyers đã thay thế bốn loại tƣ vấn của Caplan bằng một loại hình học mà có tính đặc thù trong bối cảnh trƣờng học. Trong kiểu điển hình này, có ba mức độ phục vụ khác nhau ở chỗ các dịch vụ đƣợc nhà tƣ vấn cung cấp cho các học sinh trực tiếp nhƣ thế nào (Meyers, 1989; Meyers et al. Mức độ I tập trung vào bọn trẻ, mức độ II tập trung vào cá nhà giáo, và mức độ III tập trung vào hệ thống.