Chương 1: Cơ sở lí luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Thương mại Hàng hóa Quốc tế IPC. Chương 3: iải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Thương mại Hàng hóa Quốc tế IPC. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu, lợi ích Khi nghiên cứu về tạo động lực lao động, người ta thường căn cứ vào nhu cầu của người lao động. Nhu cầu được hiểu là điều đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội [22, Tr. Nhu cầu còn được hiểu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau” [8, tr. Có thể thấy, nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội.
Ngoài nhu cầu, khi nói đến động lực lao động và tạo động lực lao động, người ta cũng quan tâm nghiên cứu lợi ích. Theo từ điển tiếng Việt, lợi ích là những điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó trong những mối quan hệ của đối tượng ấy [22, tr. Theo một nghĩa nào đó, có thể hiểu một cách đơn giản, lợi ích chính là sự thỏa mãn và hải lòng mà một 8 người cảm nhận được khi sử dụng một loại hàng hóa dịch vụ, hay thu được từ một việc làm cụ thể hoặc được sinh ra từ một mối quan hệ xã hội nào đó. Ta có thể thấy rằng, con người luôn mong muốn tìm kiếm những lợi ích nhất định từ tất cả những thứ xung quanh, chính vì thế, lợi ích đã trở thành đối tượng nghiên cứu hàng đầu không chỉ của các nhà kinh tế học mà còn của các nhà quản trị học để có thể tiến hành quản trị nguồn nhân lực của mình, đặc biệt đối với công tác tạo động lực lao động 1.
Lao động Lao động được hiểu là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã hội [22, tr. Thực chất, lao động là sự vận động của con người nhằm cải tạo giới tự nhiên theo chủ ý nhất định, hoạt động lao động giúp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Lao động là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Có thể nói rằng, lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.
Ngoài ra, theo thuyết tiến hóa của Dacwin thì con người hiện đại ngày nay có mặt là do quá trình tiến hóa từ loài vượn thông qua hoạt động lao động có ý thức. Chính vì thế, đối với sự phát triển xã hội loài người, lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hoàn thiện con người, thông qua lao động, con người đúc rút được các kĩ năng, kinh nghiệm để hoàn thiện hơn. Đến một thời điểm nhất định nào đó, lao động không chỉ là nhiệm vụ mà còn là nhu cầu của con người, con người sẽ mong muốn được tham gia vào quá trình lao động để thỏa mãn các nhu cầu bậc cao hơn của bản thân. Động cơ lao động Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động [22, tr 555].
Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết 9 quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau.
Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi: Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giầu có và muốn thể hiện.Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy để người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động.
Động lực lao động Có rất nhiều khái niệm về động lực lao động được các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản trị nhân lực đưa ra: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [26, tr. Hai tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì khẳng định: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [8, tr. Từ các khái niệm mà các tác giả đưa ra, có thể hiểu một cách chung nhất: Động lực lao động chính là những nhân tố kích thích người lao động hăng say cống hiến, nỗ lực hết mình nhằm đạt mục tiêu.
Có thể thấy, động lực lao động phải được gắn liền với một tổ chức, một công việc cụ thể. Mỗi tổ chức, mỗi công việc khác nhau thì có những phương pháp tạo động lực lao động khác nhau. Do vậy động lực lao động không phụ 10 thuộc vào bản chất cá nhân, tùy vào hoàn cảnh, công việc, tổ chức và cách thức tổ chức tạo động lực mà các cá nhân sẽ có động lực lao động khác nhau; động lực lao động cũng không mang tính ép buộc, vì khi cá nhân có động lực lao động thì tự họ sẽ hăng say cống hiến cho công việc. Động lực lao động chính là chìa khóa để tạo nên thành công của các tổ chức, doanh nghiệp, nó giúp tổ chức, doanh nghiệp tăng năng suất lao động, nó là nguồn gốc của tăng năng suất lao động.
Các tổ chức, doanh nghiệp cần nhận thức rõ vai trò của tạo động lực lao động để có thể có những biện pháp tạo động lực phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất trong công việc. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động trong các tổ chức, doanh nghiệp luôn là đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật nhằm quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc [8, tr. Theo tác giả Phương Lan: tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức [16, tr.
Theo Bùi Anh Tuấn trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" [33, tr. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Tạo động lực lao động chính là hệ thống các biện pháp, chính sách và các cách ứng xử của tổ chức, doanh nghiệp tác động đến người lao động nhằm giúp người lao động hăng say, nỗ lực phấn đấu để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra. Tạo động lực lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong việc gắn kết người lao động với tổ chức, khiến cho người 11 lao động hết mình vì mục tiêu của tổ chức, bởi trí tuệ của con người là vô hạn, nếu tổ chức có các biện pháp kích thích, tạo động lực phù hợp thì sẽ mang lại những kết quả vô cùng bất ngờ. Một số học thuyết về tạo động lực lao động Liên quan đến tạo động lực lao động, có rất nhiều các học thuyết có liên quan của các tác giả khác nhau, nghiên cứu nhu cầu con người để từ đó có các biện pháp tạo động lực hợp lí, hoặc có tác giả nghiên cứu cách hành xử với người lao động sao cho hiệu quả… Tuy nhiên, có một số học thuyết tiêu biểu thường được sử dụng khi nghiên cứu về tạo động lực lao động, và tác giả cũng lấy đó làm cơ sở để thực hiện luận văn, bao gồm: 1.
Hệ thống nhu cầu của Maslow Abraham Maslow sinh ngày 1-4-1908, mất ngày 8-5-1970. Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ. Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học. Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950.
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.