CHƯƠNG 1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Căn cứ lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận.
Doanh thu từ hoạt động cho vay đem lại nguồn thu chủ yếu để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Theo Tô Kim Ngọc (2020) thì “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo ( đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [5]. Phân theo đối tượng khách hàng vay vốn thì cho vay của NHTM thì khoản vay được chia thành các trường hợp sau: ) - Khách hàng cá nhân: Là những người có năng lực pháp luật dân sự và chịu trách nhiệm trước pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Các hình thức vay đa dạng như vay một lần, vay trả góp, vay mua nhà bằng tài khoản tiết kiệm, vay hạn mức tín dụng.
- Khách hàng doanh nghiệp: các doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty nước ngoài, công ty liên kết. Những khách hàng này thường yêu cầu số vốn lớn và có thể rất lớn. Các khoản vay doanh nghiệp rất đa dạng, bao gồm các khoản vay trả góp ngắn hạn, các khoản vay sử dụng hệ thống cho vay bảo đảm, các khoản vay dựa trên dự án đầu tư và các khoản vay hợp vốn. Theo Tô Ngọc Hưng “cho vay KHCN là quan hệ kinh tế mà trong đó NHTM chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của KHCN” [6].
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Mặc dù hoạt động cho vay KHCN là một kênh kinh doanh tiềm năng, nhưng việc triển khai cho vay trên phân khúc khách hàng này không đơn giản vì hoạt động này có những đặc trưng riêng biệt. - Mục đích cho vay: các cá nhân, hộ gia đình thường có nhu cầu sử dụng vốn vào mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn của KHCN chịu sự ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và cả địa lý. Tại các vùng miền khác nhau thì nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau tùy thuộc và tình hình kinh tế và thói quen tiêu dùng của dân cư vùng miền đó.
- Quy mô và số lượng khoản vay: hoạt động cho vay KHCN thường có đặc điểm là quy mô nhỏ và số lượng nhiều. Các khoản vay này thường có quy mô nhỏ vì hoạt động kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình thường nhỏ lẻ, năng lực kinh doanh gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ phía NHTM như điều kiện pháp lý người vay, khả năng trả nợ vay, giá trị tài sản đảm bảo… Số lượng khoản vay nhiều do hai nguyên nhân là số lượng khách hàng đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân, hộ gia đình thuộc mọi tầng lớp trong xã hội và nhu cầu cho vay phong phú, đa dạng. - Chi phí cho các khoản vay: do KHCN có số lượng nhiều, phân tán rộng nên việc cho vay, duy trì, quản lý và mở rộng cho vay KHCN thường tốn kém nhiều chi phí hơn.
Để cho vay được một khách hàng, cần qua các khâu tìm kiếm khách hàng, thẩm định, ký kết hợp đồng, đăng ký giao dịch đảm bảo và giải ngân. Do số lượng khoản vay nhiều, mà số tiền vay thường nhỏ lẻ nên khi cho vay KHCN các NHTM chịu nhiều chi phí về thời gian, công sức, tiền bạc cho các khâu trên. Ngoài ra NHTM còn chịu các chi phí quản lý các khoản vay này. Quá trình mở rộng cho vay đối với đối tượng này cũng khá tốn kém do đối tượng này phân tán trên địa bàn rộng.
Để có thể đáp ứng được nhanh chóng nhu cầu của khách hàng và mở rộng cho vay được hiệu quả, NHTM thường có số lượng Cán bộ tín dụng 7 phục vụ KHCN đông đảo hơn số lượng Cán bộ tín dụng phục vụ KHDN. Từ đó cũng gây các tốn kém về chi phí quản lý nhân sự cho NHTM. - Rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân: cho vay KHCN có hai rủi ro cơ bản là rủi ro về phía khách hàng và rủi ro tác nghiệp của NHTM. Khi thẩm định cho vay thì thông tin về pháp lý, nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng là những yếu tố quan trọng để NHTM đưa đến quyết định cho vay.
Thông thường, các thông tin này ở đối tượng là KHDN thường rõ ràng hơn thông qua báo cáo tài chính, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác… Tuy nhiên, đối với KHCN, việc thẩm định cho vay thường thiếu đầy đủ và rõ ràng. Nguồn trả nợ của khách hàng thường từ lương hoặc từ lợi nhuận hoạt động kinh doanh ở thời điểm hiện tại. Nhưng hai nguồn này thường chịu ảnh hưởng bởi tình hình công việc và sức khỏe của khách hàng. Khi người đi vay gặp vấn đề vè sức khỏe, mất việc làm hoặc các biến cố khác bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay.
Bên cạnh đó, các thông tin tài chính từ hoạt động kinh doanh của KHCN thường không rõ ràng, không được ghi chép đầy đủ. Từ đó cũng dẫn tới nhiều khó khăn trong khâu thẩm định khách hàng. Do đặc điểm của loại hình cho vay KHCN thường có số lượng nhiều và quy mô nhỏ, vì vậy để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của Cán bộ tín dụng (CBTD). Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, CBTD thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo trong khâu quản lý để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do NHTM cho vay trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trường hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ hoặc không có ý chí trả nợ trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng. Từ đó sẽ rất khó khăn cho NHTM trong quá trình xử lý khoản vay để thu hồi nợ. - Lãi suất cho vay: Từ các đặc điểm và rủi ro của hoạt động cho vay KHCN, nên lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản vay khác của NHTM.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Văn Tiến (2024): “Khách hàng cá nhân thường vay các khoản nhỏ lẻ nhằm mục đích sản xuất, tiêu dùng. Phân loại theo thời hạn khoản vay - Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của khách hàng nhằm mục đích sinh hoạt của gia đình. - Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 1-3 năm, thường để cung cấp, mua tài sản cố định, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và kinh doanh có giá trị cao của hộ gia đình. - Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 3 năm trở lên, nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình như sản xuất lớn, mua nhà ở có giá trị cao.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn - Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức dành cho cá nhân có nhu cầu mua sắm tài sản phục vụ cho sinh hoạt gia đình. - Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng dành cho những cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích hỗ trợ thúc đẩy sản xuất kinh doanh như mua sắm thiết bị máy móc, cung cấp vốn lưu động. Phân loại theo tài sản đảm bảo - Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là hình thức đi vay cầm cố, thế chấp tài sản đảm bảo hoặc có sự bảo lãnh bên thứ ba. - Tín dụng không có tài sản đảm bảo: hay còn gọi là tín chấp, không có tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Phân loại dựa vào hình thức tín dụng - Cho vay: là việc ngân hàng cam kết cấp một khoản tiền cho khách hàng với những ràng buộc khách hàng sẽ phải hoàn trả gốc và lãi theo đúng quy định của hợp đồng tín dụng đã ký. 9 - Chiết khấu: là việc mà Ngân hàng dùng một khoản tiền tương ứng trên giấy tờ có giá mà khách hàng mang đến trừ đi khoản chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng để mua lại giấy tờ có giá đó từ khách hàng. - Cho thuê tài chính: là việc mà ngân hàng cam kết mua và cho thuê lại máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,… theo yêu cầu của khách hàng. Trong thời gian thuê thì Ngân hàng vẫn là chủ sở hữu tài sản và khách hàng có nghĩa vụ trả tiền thuê.
- Bảo lãnh: là việc mà Ngân hàng cam kết sẽ thực hiện những nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) của mình khi khách hàng không đủ khả năng thực hiện được nghĩa vụ tài chính của mình” [16]. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Vai trò cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, khách hàng cá nhân và chính ngân hàng thương mại. - Đối với ngân hàng thương mại Đối với NHTM, việc cho vay KHCN đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mình. Cụ thể như sau: + Tăng thu nhập và lợi nhuận: Việc cho vay khách hàng cá nhân giúp ngân hàng thương mại tăng thu nhập từ lãi suất vay và các dịch vụ liên quan.
Khi có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ vay, ngân hàng sẽ thu về lãi suất và phí dịch vụ, từ đó góp phần vào việc tăng lợi nhuận của ngân hàng.