Phần mở đầu đã giới thiệu khái quát về nghiên cứu của luận văn. Trình bày cơ sở khoa học về các lý thuyết về hệ thống thông tin nhằm phát triển mô hình lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa yếu tố của hệ thống thông tin và lợi ích của người sử dụng hệ thống trong các Trường đại học. Chương này gồm các phần chính là 2.2 Tổng quan lý thuyết, 2.3 Mô hình nghiên cứu lý thuyết 2.1 Khái niệm và các lý thuyết liên quan 2.1 Tính tương thích công việc được cảm nhận (perceived work compatibility) Khả năng tương tích trong công việc chủ yếu là một cấu trúc mang tính cảm tính vì chính nhận thức về sự phù hợp giữa CNTT và công việc sẽ thúc đẩy nhân viên sử dụng hệ thống, bất kể mức độ phù hợp thực tế. Theo (Yuan Sun, 2009) khả năng tương thích công việc của người dùng hệ thống ERP hoàn toàn là sự phù hợp của công nghệ thông tin với công việc của tổ chức chứ không phải sở thích cá nhân hoặc thói quen làm việc.
Các tổ chức triển khai CNTT để tạo thuận lợi cho công việc của tổ chức hơn là để phù hợp với sở thích hoặc thói quen cá nhân của người dùng.2 Lý thuyết nhận thức xã hội (social cognitive theory) Theo lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1977) thì hành vi của một cá nhân có thể được điều chỉnh bằng cách kiểm soát cảm nhận của người đó. Nói rõ hơn, khi một cá nhân tin rằng họ đủ nguồn lực hay điều kiện để có thể giải quyết một vấn đề thì họ có nhiều khuynh hướng xuôi theo niềm tin đó để thực hiện hành vi giải quyết vấn đề của mình. Chi tiết hơn, quan điểm Nhận thức xã hội cho rằng khả năng mà một cá nhân thực hiện một số nhiệm vụ nhất định phụ thuộc vào mức độ tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy) của họ trong việc thực hiện những nhiệm vụ đó và theo đó, tự tin vào năng lực bản thân là một khái niệm trung tâm của nhận thức xã hội (Bandura, 1977).3 Tự tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) 8 Là niềm tin rằng bản thân mình có khả năng và năng lực để thực hiện hành vi công việc với một mức độ thành công nhất định (Bandura, 1977). Trong bối cảnh sử dụng hệ thống thông tin Trường đại học, tự tin vào năng lực bản thân của người sử dụng chính là niềm tin của người sử dụng rằng họ có đủ khả năng tiếp cận, chuẩn bị để sử dụng hệ thống thông tin Trường đại học được cung ứng cho công việc của họ - chẳng hạn như kỹ năng đăng nhập, thao tác các chức năng được phân quyền trên hệ thống thông tin Trường đại học.4 Cấu trúc hỗ trợ (Support structure) Theo (skyes, 2019) cấu trúc hỗ trợ là loại hỗ trợ được sử dụng phổ biến nhất trong các tổ chức gồm cấu trúc hỗ trợ chính thức và cấu trúc hỗ trợ không chính thức.
Cấu trúc hỗ trợ là những hỗ trợ về kỹ thuật, hỗ trợ của nhà quản lý, hỗ trợ trực tuyến khi hệ thống đang được triển khai thử nghiệm và hỗ trợ trực tiếp khi hệ thống đã đi vào vận hành. đối với người dùng sử dụng hệ thống thông tin Trường đại học.5 Chất lượng hệ thống thông tin (Information systerm quality) Theo Delone và MCLean (2004), mô hình chất lượng hệ thống thông tin chỉ bao gồm: Chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, chất lượng dịch vụ. Chất lượng hệ thống (system quality) được đánh giá bằng chức năng của hệ thống đó. Chất lượng hệ thống sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng của người sử dụng hệ thống (Lê và Benbasat, 2004), nó phản ánh sự ổn định, điều hướng bố trí và dễ sử dụng của hệ thống thông tin.
Sự tương tác của hệ thống, thời gian truy cập, thời gian phản hồi và tính linh hoạt của hệ thống (nelson và cộng sự, 2005). DeLone và MCLean (2003) cho rằng các yếu tố củ chất lượng hệ thống bao gồm tính dễ sử dụng, độ tin cậy, thời gian đáp ứng và tính linh hoạt. Vance và cộng sự (2008) tiết lộ rằng chất lượng hệ thống ảnh hưởng đến niềm tin của người sử dụng đối với các sản phẩm công nghệ thông tin. Nếu chất lượng hệ thốn kém, người dùng có thể gặp phải sự gián đoạn trong việc sử dụng dịch vụ ảnh hưởng đến hiệu năng và hiệu suất của người dùng.
Chất lượng thông tin (Information quality) là dựa trên thông tin được cung cấp bởi các dịch vụ trực tuyến, nó đề cập đến các yếu tố chính xác và đầy đủ của 9 thông tin và kích thước thông tin cung cấp cho người sử dụng hệ thống (nelson và cộng sự, 2005). Thông tin của hệ thống luôn được câp nhật kịp thời, đầy đủ và chính xác giúp người dùng tiếp cận được đầy đủ thông tin về yêu cầu của mình cần. Vì vậy họ sẽ tin tưởng vào hệ thống thông tin họ đang sủ dụng. Fung và Lê (1999) tuyên bố chất lượng thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với hệ thống.
Chất lượng dịch vụ (Service quality) là chất lượng của sự tương tác giữa người sử dụng hệ thống với dịch vụ trợ giúp mà người dùng hệ thống nhận được từ bộ phận công nghệ thông tin (Ahn và cộng sự, 2007). Chất lượng dịch vụ đề cập trong nghiên cứu này là chất lượng hệ thống thông tin cung cấp các dịch vụ. Chất lượng dịch vụ phản ánh khả năng đáp ứng, đả bảo và sự đồng cảm của các dịch vụ được cung cấp cho người sử dụng hệ thống thông tin (Gefen, 2002). Chất lượng dịch vụ được thể hiện rõ khi bộ phận hỗ trợ cung cấp trả lời nhanh các câu hỏi của người sử dụng hệ thống thông tin.
Chất lượng dịch vụ là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của hệ thống thông tin trong môi Trường thương mại điện tự nơi mà dịch vụ khách hàng rất quan trọng (DeLone và MCLean, 2003).6 Giá trị cảm nhận (Perceived value) Giá trị từ sản phẩm/ dịch vụ mà khách hàng cảm nhận là mức độ mà một người tin rầng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của học (Davis, 1989). Giá trị cảm nhận là một trong những yếu tố quan trọng trong việc chấp nhận các công nghệ mới. Nó sẽ được mô tả là sự đánh giá đơn giản, tiện lợi hoặc không tốn công sức của người dùng khi sử dụng tiện ích công nghệ (Selamat và Windasari, 2021).7 Sự hài lòng (Satisfaction) Sự hài lòng được hiểu là trạng thái tâm lý có được sau kết quả của một quá trình đánh giá giữa lợi ích đạt được so với lợi ích mong đợi sau khi trải nghiệm sử dụng hệ thống thông tin (Bauer, Grether, 2002). Sự hài lòng của người dùng được đề cấp đến phản ứng của người nhận đối với việc sử dụng đầu ra của một hệ thống thông tin, hoặc mức độ mà người dùng cảm thấy IS đáp ứng yêu cầu của học (DeLone và McLean, 1992).
Sự hài lòng là hệ quả 10 của trải nghiệm của người dùng trong các giai đoạn kích thích nhu cầu, tìm kiếm thông tin, lựa chọn thay thế, đánh giá, quyết định mua hàng và hành vi mua hàng (kotler, 1997). Trong nghiên cứu này, sự hài lòng của người dùng là mức độ cảm nhận được phù hợp giữa các yêu cầu của họ và chức năng hệ thống thông tin (Sedddon, 1997).8 Lợi ích cá nhân (Individual benefit) Lợi ích cá nhân đề cập đến ảnh hưởng của thông tin đến hành vi người nhận (Delone và McLean, 1992). Việc đánh giá sau một hệ thống ERP trên một cá nhân lợi ích là cần thiết vì nó không chỉ biện minh cho các khoản đầu tư mà còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách quản lý tốt hơn hành vi của nhân viên (Uwizeyemungu và Raymond, 2010). Trong nghiên cứu này, tác giả xác định lợi ích cá nhân khi nhận thức của người dùng về tầm quan trọng và tính hữu ích của hệ thống thông tin ảnh hưởng đến năng lực và hiệu quả của chúng.2 Tổng quan lý thuyết 2.1 Mô hình thành công của hệ thống thông tin DeLone và McLean (D&M) (1992, 2003, 2016) Mô hình thành công của DeLone và McLean (1992) gồm sáu biến, các biến này có liên quan nhau chứ không phải độc lập, phụ thuộc lẫn nhau.1Mô hình thành công IS của D & M (DeLone và McLean, 1992) Mô hình Hệ thống thông tin thành công của DeLone và McLean cung cấp một khuôn khổ và mô hình để đo lường biến phụ thuộc phức tạp trong nghiên cứu IS.
Mô hình IS thành công của DeLone và McLean (1992, 2003) cung cấp một quan điểm hữu ích thông qua mà chúng ta có thể hiểu thành công sau khi triển khai ERP 11 theo cách tích hợp hơn. Bằng cách xem xét lại 100 thước đo được sử dụng trong 180 nghiên cứu cho các định nghĩa về sự thành công của IS và tiền đề của chúng, (DeLone và McLean, 2003) đã phát triển một mô hình thành công IS kết hợp một cách có hệ thống. Mô hình thành công của IS có thể được hiểu như sau: một hệ thống IS có thể được đánh giá bởi ba chiều cạnh chất lượng: Chất lượng thông tin(IQ: Information quality), Chất lượng hệ thống (SysQ: System quality) và Chất lượng dịch vụ (SerQ: Service Quality). Trong bối cảnh của ERP, IQ và SysQ cho biết các nguồn lực có được từ chính hệ thống ERP tác động đến người dùng, những người có định hướng kỹ thuật, trong khi SerQ có thể báo hiệu các nguồn lực do nhân viên IS kiểm soát để ảnh hưởng đến người dùng, được định hướng bởi con người.
Những yếu tố chất lượng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng. Thông qua việc sử dụng, một số lợi ích nhất định sẽ đạt được. Mô hình IS thành công D&M được trích dẫn rộng rãi nhất và đã có những đóng góp có giá trị cho hiểu biết về IS thành công (Gable và cộng sự, 2008). Ít các nghiên cứu kiểm tra SerQ dựa trên con người, tập trung vào dịch vụ được cung cấp bởi nhà cung cấp hệ thống ERP hoặc các nhà tư vấn ERP (Wang và Chen, 2006; Tasi và cộng sự, 2011).
Thật vậy, nghiên cứu về các hệ thống ERP hiếm khi kiểm tra SerQ dựa trên con người với sự hiện diện của IQ và SysQ (ví dụ: Zhu và cộng sự, 2010; Cao và cộng sự, 2013; Ha & Ahn, 2013). Tổng hợp lại, những phát hiện này cho thấy cần phải làm nhiều việc để tìm hiểu SerQ của nhân sự IS nội bộ cùng với IQ và SysQ quyết định sự thành công của các hệ thống ERP đã triển khai như thế nào. Thứ hai, nghiên cứu này bối cảnh hóa các biện pháp tác động của từng cá nhân.