Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan và sơ lược về ngành điện Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Nhận xét. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA DOANG NGHIỆP 2. Cơ sở lý thuyết về vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi 2. Vốn luân chuyển 2.
Khái niện vốn luân chuyển Vốn luân chuyển là chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hóa qua tất cả các dạng – từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và quay trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Vốn luân chuyển có vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Thành phần vốn luân chuyển: Vốn luân chuyển bao gồm bốn thành phần: Số ngày khoản phải thu, số ngày tồn kho, số ngày khoản phải trả và chu kỳ tiền mặt.
- Số ngày khoản phải thu: Số ngày khoản phải thu là khoảng thời gian từ khi bán hàng hóa dịch vụ cho khách hàng cho đến khi thu được tiền. Mở rộng tín dụng thương mại cho khách hàng, đồng nghĩa với việc tăng khoảng thời gian thu tiền, sẽ làm tăng doanh thu vì tín dụng thương mại có thể xem như một sự giảm giá hiệu quả (Brennan và cộng sự, 1988; Petersen và Rajan, 1997). Điều này khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm trong những thời điểm nhu cầu thấp (Emery, 1984), cho phép khách hàng kiểm tra xem sản phẩm họ nhận được (cả về số lượng và chất lượng) có đúng như thỏa thuận hay không và để đảm bảo rằng các dịch vụ trong hợp đồng được thực hiện (Smith, 1980). Khi mở rộng tín dụng trong hoạt động bán hàng hóa dịch vụ, doanh nghiệp có thể gia tăng được thị phần, từ đó gia tăng được doanh thu bán hàng và lợi nhuận.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tuy nhiên, khi doanh nghiệp mở rộng việc bán chịu hàng hóa cho khách hàng sẽ làm nợ phải thu gia tăng. Tăng thời gian khoản phải thu sẽ làm tăng nguy cơ đối mặt với rủi ro đối với doanh nghiệp, do tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu do vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng. Tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu được do khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Ngược lại, khi doanh nghiệp giảm thời gian khoản phải thu bằng cách thắt chặt tín dụng, thu được tiền nhanh, cải thiện tính thanh khoản, nhưng doanh thu có thể sụt giảm do sức cạnh tranh trên thị trường giảm, từ đó sẽ giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Do đó việc cần thiết đối với nhà quản trị doanh nghiệp là duy trì khoản phải thu ở mức tối ưu. - Số ngày tồn kho Số ngày tồn kho là khoảng thời gian cần thiết để chuyển hóa nguyên vật liệu sang thành phẩm và bán những thành phẩm này. Đối với các doanh nghiệp, hàng tồn kho có vai trò như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh như dự trữ - sản xuất – và tiêu thụ sản phẩm khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc nào cũng diễn ra đồng bộ. Thông thường, số ngày tồn kho càng ngắn, vòng quay hàng tồn kho cao thì việc quản trị hàng tồn kho càng có hiệu quả.
Tuy nhiên, số ngày tồn kho thấp có thể là dấu hiệu của việc duy trì số lượng tồn kho quá ít, từ đó có khả năng xuất hiện rủi ro là việc sản xuất bị chậm trễ nếu vật liệu không được phân phối đúng hạn, khả năng sinh lời sẽ bị ảnh hưởng xấu. Ngược lại, số ngày tồn kho dài thường là dấu hiệu của việc số lượng tồn kho cao, điều này mang lại lợi ích làm giảm rủi ro do thiếu nguyên vật liệu, một lượng tồn kho lớn làm cho hoạt động sản xuất có thể tiến hành được dài hơn, liên tục hơn và tiết kiệm hơn, từ đó tăng khả năng cải thiện được lợi nhuận. Nhưng việc dự trữ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tồn kho phải trả giá, đó là lãi suất mất đi do tiền phải đầu tư vào dự trữ tồn kho, tiền thuê kho phải trả, nguy cơ hàng hóa sẽ hư hỏng và giảm chất lượng. Do vậy, muốn cải thiện lợi nhuận, các doanh nghiệp phải xác định mức độ đầu tư vào hàng tồn kho tối ưu, khi đó nhà quản trị cần so sánh lợi ích đạt được và chi phí phát sinh, kể cả chi phí cơ hội của tiền được đầu tư vào hàng tồn kho.
Có hai loại chi phí liên quan đến tồn kho là chi phí lưu giữ (bao gồm chi phí lưu giữ và quản lý; chi phí bảo hiểm và thuế; thiệt hại do lỗi thời, hư hỏng hoặc trộm cắp; chi phí cơ hội của số vốn đầu tư vào hàng tồn kho) và chi phí thiếu hụt (là chi phí liên quan đến việc không đủ hàng tồn kho). Do đó tồn kho tối ưu đạt được khi giảm thiểu tổng hai loại chi phí trên. - Số ngày khoản phải trả Số ngày khoản phải trả (kỳ trả tiền) là khoảng thời gian từ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ cho đến khi doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp. Kỳ trả tiền càng dài doanh nghiệp sẽ tận dụng được nguồn vốn tạm thời để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tín dụng thương mại là nguồn tài chính làm giảm số tiền cần thiết để tài trợ cho các khoản hàng tồn kho và tài khoản phải thu khách hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu kéo dài kỳ thanh toán có thể ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của công ty. Bên cạnh đó, một điều mà các nhà quản lý công ty cần lưu ý là tín dụng tài chính từ các nhà cung cấp có thể có chi phí ngầm rất cao nếu họ có chính sách giảm giá khi người mua hàng thanh toán sớm, vì vậy nếu công ty thanh toán trước thời hạn các hóa đơn mua hàng cũng có thể được hưởng các khoản chiết khấu trên số tiền thực tế phải trả nếu trả đúng hạn, dẫn đến tăng lợi nhuận. Nhưng khi chọn kỳ trả tiền ngắn, doanh nghiệp sẽ không tận dụng được nguồn vốn tạm thời từ các khoản phải trả mà phải sử dụng nguồn vốn vay bên ngoài nếu có nhu cầu về vốn, khi đó công ty vừa phải trả thêm chi phí sử dụng vốn, gây ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh lợi, vừa phải công khai thông tin khi theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng, điều này có thể gây bất lợi cho công ty.
Do vậy việc sử dụng tín dụng thương mại từ việc trì hoãn thanh toán các hóa đơn cho nhà cung cấp như thế nào là vấn đề TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cần được các nhà quản trị doanh nghiệp lưu tâm. Các nghiên cứu trước đây đã phân tích chi phí tín dụng thương mại cao và thấy rằng các công ty tự tài trợ bằng tín dụng người bán khi họ không có sẵn các nguồn tài chính khác (Petersen và Rajan, 1994, 1997). - Chu kỳ tiền mặt: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (hay còn gọi là chu kỳ tiền mặt) là khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp mua nguyên liệu, sản xuất, bán hàng và thu lại tiền mặt. Thời gian chu kỳ chuyển đổi tiền càng dài, nghĩa là các doanh nghiệp đầu tư vào vốn lưu động càng lớn.
Các doanh nghiệp có chu kỳ tiền mặt dài hơn có thể gia tăng lợi nhuận vì doanh số cao hơn. Tuy nhiên, lợi nhuận doanh nghiệp cũng có thể giảm khi tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, điều này xảy ra khi chi phí đầu tư vào vốn lưu động cao hơn và tăng nhanh hơn lợi ích đem lại từ việc lưu trữ nhiều hàng tồn kho và mở rộng chính sách tín dụng thương mại cho khách hàng (Delagger, 2003). Khả năng sinh lợi Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thể hiện ở chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty, là kết quả thu được khi so sánh giữa lợi nhuận và các chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu,. Các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Nhận thấy tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển trong công tác tài chính của doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã tập trung vào nghiên cứu sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển, được đo lường thông qua số ngày khoản phải thu (AR), số ngày tồn kho (INV), số này khoản phải trả (AP), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp.
Tác giả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã sử dụng mẫu nghiên cứu là những công ty thuộc các ngành nghề khác nhau, tại nhiều nước trên thế giới, vào những khoảng thời gian khác nhau, từ đó họ đã tìm thấy mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp. Việc quản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trị vốn luân chuyển, thể hiện qua các yếu tố cấu thành nên, tác động đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp được thể hiện như sau: 2. Tác động của số ngày khoản phải thu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kỳ thu tiền có mối tương quan ngược chiều với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa rằng các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lợi bằng việc giảm thời gian khoản phải thu khách hàng.