Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH DOANH LƯƠNG THỰC-THỰC PHẨM HÀ NỘI 1. Công ty cổ phần và người lao động trong công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực-thực phẩm Hà Nội. Khái niệm công ty cổ phần Theo quy định tại Điều 110 – Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13. Tổ chức lao động trong công ty cổ phần Luật doanh nghiệp 2014 quy định: Điều 134.
Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần 1. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác: 13 a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát; b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị.
Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty. Sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực- thực phẩm Hà Nội.
Khái niệm hài lòng Sự hài lòng về công việc là trạng thái thoải mái hay những cảm xúc dương tính mà người lao động có được từ những đánh giá về công việc của họ hoặc những trải nghiệm về công việc mà họ đang làm (Locke, 1976). Nó phản ánh chất lượng cuộc sống tại nơi làm việc, nơi mà người lao động sử dụng một phần đáng kể thời gian vật chất trong ngày của mình [2, tr. 14 Từ một góc độ khác, thuật ngữ hài lòng không mô tả nó là gì mà bàn đến nguồn gốc xuất hiện của nó. Hài lòng được coi là sự lượng giá, trong đó cá nhân đánh giá chất lượng sống trên cơ sở các tiêu chuẩn cá nhân (Shin & Johnson, 1978).
475-492] Theo cách hiểu này sự hài lòng về công việc là kết quả đánh giá khi đối chiếu giữa thực tế làm việc với tiêu chuẩn mà cá nhân đặt ra trong công việc của mình. Người lao động hài lòng khi kết quả tương ứng với tiêu chuẩn họ đặt ra hay nói khác đi, người lao động hài lòng khi những mong đợi đặt ra, được đáp ứng. Hoặc con người cảm thấy hài lòng khi những lợi ích nhận được lớn hơn yêu cầu của mình. Cũng giống như mọi loại cảm xúc khác, hài lòng là trải nghiệm mang tính chủ quan của cá nhân.
Cùng một điều kiện, bối cảnh của công việc, nhưng mỗi người có mức độ hài lòng khác nhau bởi mong đợi của mỗi người từ công việc mà họ làm cũng khác nhau. Như thế, khái niệm về sự hài lòng về công việc khá đa dạng, còn chưa được thống nhất. Dù cách hiểu có khác nhau nhưng điểm chung của các quan niệm là cảm giác tích cực với công việc của người lao động. Đó là cảm nhận tổng thể của riêng mỗi người về công việc của mình và mang tính chủ quan.
Sự hài lòng với công việc có mối liên quan rõ rệt với hiệu quả làm việc của người lao động và vì thế các nhà quản lý đều quan tâm tìm hiểu nó được hình thành nên từ những yếu tố nào. Sự hài lòng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, theo đó có rất nhiều quan niệm khác nhau về sự hài lòng, tuy nhiên thường được định nghĩa thiên về trạng thái cảm xúc hoặc tinh thần của một con người. Schermerhorn (1993) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là một phản ứng tình cảm hoặc cảm xúc hướng tới các khía cạnh khác nhau của một nhân viên làm việc. Tác giả nhấn mạnh rằng có khả năng nguyên nhân của sự hài lòng trong công việc bao gồm tình trạng, giám sát, mối quan hệ đồng nghiệp, công việc nội dung, thù 15 lao và phần thưởng bên ngoài, khuyến mãi và điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu tổ chức.15] Hoyer và MacInnis (2001) cho rằng sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích, vui sướng.
[11] Kotler (2000) định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. [11] Theo thuyết nhu cầu của A. Maslow, tác giả cho rằng nhu cầu và sự phát triển của con người theo các bậc từ thấp đến cao. Sau khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì đòi hỏi cần thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn.
Dựa trên các thang bậc từ cơ bản đến phức tạp của đời sống, các cá nhân sẽ có những mức độ hài lòng khác nhau khi nhu cầu được đáp ứng ở những mức độ khác nhau. [19] Theo Kreitener & Kinicki (2007), sự hài lòng công việc/không hài lòng trong công việc được định nghĩa là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của một người về việc đánh giá công việc của họ, không có ý định/có ý định rời bỏ tổ chức và giới thiệu tốt/ không tốt về tổ chức với bên ngoài.169] Theo Smith và cộng sự (1969) sự hài lòng là trạng thái tình cảm của người lao động đối với các khía cạnh công việc khác nhau. Mức độ hài lòng với các khía cạnh bao gồm công việc, lãnh đạo, đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến, thu nhập ảnh hưởng đến thái độ và nhận thức của người lao động. Khái niệm công việc Điều 13 trong bộ luật Lao động của nhà nước Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là “việc làm”[1] Theo đại từ điển Tiếng việt của Nguyễn Như Ý chủ biên (1999) thì: - Công việc: Là việc phải làm.
- Việc làm: Là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống. 16 - Nghề nghiệp: Là thành thạo trong một công việc nào đó. Khái niệm người lao động Theo bách khoa toàn thư, người lao động là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng. Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc. Khái niệm sự hài lòng của người lao động Hoppock (1935) đã xác định sự hài lòng với công việc là sự kết hợp về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ. Ông cũng cho rằng sự hài lòng công việc nói chung không chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau.77-86] Vroom trong định nghĩa của mình về sự hài lòng công việc tập trung vào vai trò của nhân viên tại nơi làm việc. Do đó ông xác định sự hài lòng công việc như định hướng tình cảm của cá nhân đối với vai trò công việc mà họ đang đảm nhận.77-86] Weiss (1967) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động.8] Dawis và Lofquist (1984) định nghĩa sự hài lòng công việc như là kết quả thẩm định của người lao động của mức độ mà môi trường làm việc đáp ứng nhu cầu của cá nhân.
[30] 17 Spector (1997) định nghĩa sự hài lòng công việc chỉ đơn giản là cách mọi người cảm nhận về công việc của họ và các khía cạnh khác nhau của công việc của họ. Đó là mức độ mà mọi người thích (hài lòng) hoặc không thích (không hài lòng) công việc của họ.8] Hulin và Judge (2003) đã lưu ý rằng sự hài lòng công việc bao gồm đáp ứng tâm lý đa chiều cho công việc của một cá nhân và những phản ứng cá nhân này có thành phần nhận thức (cảm xúc), tình cảm và hành vi. [28] Luddy (2005) cho rằng sự hài lòng với công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Luddy nhấn mạnh các nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cơ cấu tổ chức.
[30] Sự hài lòng công việc là cảm giác thành công của công nhân và thành công trong công việc. Sự hài lòng công việc là thực hiện công việc yêu thích, làm tốt và được thưởng cho những nỗ lực của một người.