Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC TIẾP CẬN HÌNH TƯỢNG ANH HÙNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 1. Khái niệm anh hùng và hình tượng anh hùng trong văn học trung đại Cuốn Giải thích từ Hán Việt trong SGK văn học hệ phổ thông của Lê Anh Tuấn giải thích từ anh hùng là “người giỏi xuất chúng, có tài chí cao” 45, tr9. Cách định nghĩa này khá giống Lê Dân và Thái Xuân Đệ khi cho rằng “anh hùng là bậc tài giỏi xuất chúng” 13, tr9. Cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam do Quý Lâm – Kim Phượng biên soạn cho rằng anh hùng là: (1) “người lập nên công trạng đặc biệt lớn lao đối với nhân dân, đất nước”; (2) “là nhân vật thần thoại có tài năng và khí phách lớn, làm nên những việc phi thường”; (3) “danh hiệu cao nhất nhà nước tặng thưởng cho người hoặc đơn vị có thành tích và công hiến đặc biệt xuất sắc trong lao động hoặc chiến đấu”; (4) “có tính chất của người hành động anh hùng” 24, tr.
Cách định nghĩa này quan tâm cả đối tượng người anh hùng trong thực tế và trong tác phẩm văn học. Không chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm, Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu còn cắt nghĩa cụ thể hai chữ anh hùng. Theo tác giả thì “anh” là “hoa của các loài cây cỏ, vì thế nên vật gì cũng đẹp khác thường đều được gọi là anh”; Còn “hùng” được cắt nghĩa là “các loài thú có lông thuộc về giống đực, vua chúa của các loài thú thì được gọi là hùng”. Với cách định nghĩa này tính chất anh hùng của nhân vật còn được chú ý ở phương diện giới, thể hiện sức mạnh thế chất và yếu tố nam tính.
Như vậy, khái niệm anh hùng được hiểu tương đối giống nhau qua các thời kỳ lịch sử. Dù hiểu theo cách nào thì họ đều có đặc điểm chung đó là những con người có tài năng, khí phách lớn lao, phi thường, có kì tích, công trạng. Phẩm chất quan trọng nhất của người anh hùng là sự mưu trí, tài năng, có trí khôn hơn người để vượt qua thử thách khắc nghiệt và lòng nhân - tình thương người. Cần phân biệt khái niệm anh hùng và anh hùng dân tộc.
Anh hùng dân tộc là những nhân vật có thật, kiệt xuất trong lịch sử dựng nước, giữ nước, tạo dựng văn hóa văn minh mà tên tuổi, hành động, chiến công … được nhân dân suy tôn và lịch c 15 sử dân tộc ghi nhận, trở thành biểu tượng và niềm tự hào bất diệt của dân tộc. Còn khái niệm anh hùng (hero) rộng hơn: là người được kính trọng vì lòng dũng cảm hoặc những thành tựu phi thường, đó có thể hiểu là anh hùng văn hóa, xuất hiện trong văn hóa tâm linh như các vị thần trong tâm thức dân gian, những người anh hùng trong tác phẩm văn chương được nhân dân mến mộ, tôn sùng. Những người anh hùng ấy là kết quả của trí tưởng tượng thể hiện ước mơ về những người bảo vệ công lí và lẽ phải, đấu tranh cho hạnh phúc con người. Nhân vật Từ Hải và Lục Vân Tiên kết tinh những đặc điểm của người anh hùng trung đại.
Trong văn học trung đại, người anh hùng được thể hiện qua mẫu hình thánh nhân quân tử - mẫu hình lí tưởng của Nho gia. Đó có thể là những đấng bậc anh hùng, thánh nhân, vua chúa, Nho gia, thiền sư, những nhân vật tài đức lỗi lạc, phi thường, xuất chúng, chịu sự chi phối của một quan niệm chung mang tính chất văn hóa về nhân cách. Trong văn học trung đại, thường xuất hiện mô típ nhân vật dị thường, phi thường liên quan đến thân thể và trí tuệ. Đó là thiền sư Khuông Việt “dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa” 53, tr42, là thiền sư Đạo Huệ có “tướng mạo đoan chính, giọng nói trong trẻo” 53, tr98.
Đó phải là những con người “trung tín, kính cẩn, chân thực” 53, tr102 hoặc dị thường như Thượng Thư Lê Như Hổ “sinh ra đã thông minh, thân thể cao lớn khác thường, ăn rất khỏe và rất hiếu học” 48, tr153 … Trong văn học trung đại, tính cách anh hung của con người phải được quy chuẩn bởi các phạm trù đạo đức, phải đặt chữ Trung lên hàng đầu, phải tuân thủ chữ Nghĩa, có khí phách và sức mạnh của Dũng, phải giữ được khí tiết trong sạch, thanh cao, không trọng thân thể, diệt dục. Văn học trung đại là tấm gương soi lòng trung của những người anh hùng. Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng “Quân thân chưa báo lòng canh cánh” (Thủ vĩ ngâm, Bài 8), đau đáu “một tấm lòng Trung lẫn hiếu/ Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” (Thuật hứng, Bài 24). Vị chủ tướng cũng phải là hình mẫu lí tưởng về lòng trung quân ái quốc.
Đó là Trần Hưng Đạo với ước muốn “xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù” 36; Trần Bình Trọng “thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”, (nguồn wikipedia.org); Đó là tinh thần phá cường địch, báo hoàng ân của tướng lĩnh thời c 16 Trần khi mỗi người đều khắc trên tay hai chữ sát thát (giết giặc); của chủ tướng Lam Sơn “ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không cùng sống” 33, tr244. Đó còn là ước nguyện “Sống đánh giặc thắc cũng đánh giặc” 32, tr64 của những người nông dân nghĩa sĩ trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu. Chữ Trung chính là phẩm chất bậc nhất của người anh hùng. Cùng với lòng trung nghĩa, người anh hùng cần phải có khí phách thể hiện qua bản lĩnh và lí tưởng.
Lí tưởng phải mang tầm vũ trụ, với hành động và khát vọng phi thường như “cắp ngang ngọn giáo bảo vệ non sông” 32, tr225, phải làm được cái điều “Hội rồng mây cho phỉ chí tang bồng” 40, tr82, “Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong” để “Làm cho rõ tu mi nam tử” (Chí nam nhi) 40, tr57 …Người có chí lớn là người “Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung” để mong “tiến bệ rồng”, sẵn sàng ở nơi “cõi xa mưa gió”, nơi “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo/ Bến Phì gió thổi đìu hiu mầy gò” 38. Vấn đề quan tâm của người anh hùng phải là tài trai, chí tang bồng, chí nam nhi, chí trượng phu…Họ phải quan tâm đến gánh trung hiếu, chữ cương thường, đạo vi tử vi thần, phải sắp hai chữ quân thần mà gánh vác. Đã là người anh hùng thì phải kinh bang tế thế, coi “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” (trong vòng trời đất không có việc gì không phải của mình) 40, tr62. Bậc trượng phu cho rằng đã là là kẻ sĩ trong thiên hạ thì phải lấy việc phò vua, giúp dân làm trọng.
Trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn luôn thấp thoáng hình tượng tiêu biểu cho những con anh hùng trong xã hội phong kiến. Những con người lấy việc Tu, Tề, Trị, Bình làm gốc với tinh thần “quân hứa quốc tâm như đơn” – câu 435 (đem quân giúp nước với tấm lòng đỏ như son), “Quân tì dân thân như thiết” – Câu 436 (giúp dân che chở cho dân vì chí gan sắt lâu bền) 38, tr50. Đó là khát vọng lập công lập danh của kẻ làm trai trong thơ Nguyễn Công Trứ coi làm trai “Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự vịnh) 40, tr53. Từ văn học đến chính sử, chúng ta đã có vô vàn những bậc anh hùng.
Mà đã là bậc anh hùng phải trọng tiết tháo. Thời trung đại “người anh hùng không có thể làm đến vương hầu mà coi công danh như phù vân, lìa bỏ ngai vàng như trút chiếc giầy rách” 48, tr21. Bậc anh hùng khi không được như ý sẵn sàng từ quan về ở ẩn, xa “chốn lao xao” 32, tr232 lợi danh để giữ gìn khí tiết như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cao Bá Quát là danh sĩ nổi tiếng với c 17 khí phách “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” – một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai – đóa hoa trong sạch, thẳng ngay 40, tr110.
Lê Hữu Trác từ người chán nản với công danh do thời thế suy vi, sẵn sàng khước từ lợi danh, tìm con đường bốc thuốc chữa bệnh, vì dân mà tận tụy. Đó chính là bởi tinh thần coi trọng tiết tháo của người anh hùng thời trung đại. Tuy nhiên, khí phách, khí tiết của người anh hùng còn thể hiện ở việc hành nhân trọng pháp khinh li biệt (Người đi tình nhẹ, nặng nghĩa cả) 38, tr 33, đặt chí lớn lên trên những tình cảm thường tình. Có nghĩa là, trong quan niệm về người anh hùng thời trung đại luôn coi nhẹ thứ tình cảm nữ nhi thường tình, có sự chiết tỏa tình cảm con người trong mọi quan hệ, gay gắt nhất là trong quan hệ nam nữ.
Cho nên thơ ca trung đại rất ít khi nói về quan hệ nam nữ, vấn đề đời sống riêng tư của người anh hùng. Trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, người chinh phu dù đang ở độ tuổi thanh xuân “Lương nhân nhị thập Ngô môn nào” (Chồng ta người thanh niên lương thiện ở tuổi đôi mươi, dòng dõi hào kiệt như Ngô Khởi) 38, tr33, dù hoàn cảnh gia đình có mẹ già tóc bạc như sương (“Quân hữu lão thân mấn như sương”), có con thơ ở tuổi măng sữa (“Quân hữu nhi lang niên thả nhụ”) 38, tr40, có vợ trẻ mới cưới vẫn niên thiếu phong lưu (“Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn”) 38, tr38…nhưng không ngăn nổi “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa” 38, tr54 có tư thế và tác phong lên đường không phải là của người lính bình thường “Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa” (Ca dao) mà phải là người anh hùng lí tưởng mang tầm khái quát của văn chương trung đại “thét roi cầu Vị ào ào gió thu” 38, tr54. Kẻ trượng phu tung hoành nghìn dặm, lấy da ngựa bọc thây chốn sa trường. Tính mạng mình vốn coi nặng như Thái Sơn, nhưng vì dân, vì nước ,vì vua nên coi nhẹ như lông chim hồng.
Đặc biệt tinh thần sẵn sàng từ giã chốn khuê phòng ra đi theo nghiệp chinh chiến, vun vút roi ngựa theo ngọn gió Tây đến Vị Kiều là phẩm chất tiêu biểu của người anh hùng trung đại: trung nghĩa, tiết dục. Từ đó, phải khẳng định Từ Hải và Lục Vân Tiên là những nhân vật được hư cấu trong tác phẩm văn học, mang đặc điểm chung về quan niệm người anh hùng thời trung đại. Tuy nhiên, so với quan niệm chung ấy, mỗi nhân vật lại có những sự khám phá riêng, chúng tôi sẽ nghiên cứu cụ thể ở phần sau. Khái niệm văn hóa và hướng nghiên cứu văn học theo góc nhìn văn hóa 1.
Khái niệm văn hóa Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa với nhiều phạm vi khác nhau.