Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm công dân Theo cách hiểu thông thường công dân là khái niệm dùng để chỉ một người thuộc về một nhà nước nhất định mà người đó mang quốc tịch. Xét về phạm vi nghĩa thì cá nhân bao trùm cả công dân. Trong cá nhân bao gồm có công dân, người nước ngoài và người không mang quốc tịch.
Hiểu như vậy để phân biệt cá nhân với công dân của một nước. Như vậy từ đó có thể thấy rằng Quốc tịch là căn cứ để xác định công dân của mỗi nước. Nếu một người có quốc tịch của một quốc gia thì người đó được gọi là công dân của quốc gia đó. Quốc tịch ban cho quốc gia thẩm quyền pháp lý đối với cá nhân và cho phép cá nhân nhận được sự bảo vệ của quốc gia mà họ có quốc tịch.
Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch, mọi công dân thuộc các dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền có quốc tịch Việt Nam. Công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.Vị trí pháp lý của công dân Vị trí pháp lý của công dân được hiểu là tư cách pháp lý thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh. Vị trí pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng. Như vậy, vị trí pháp lý của công dân được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của 7 e công dân luôn luôn là một chế định cơ bản của luật Hiến pháp Việt Nam. Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản bao giờ cũng giữ một vị trí quan trọng. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công dân được hưởng các quyền con người, quyền công dân về mọi lĩnh vực trong đời sống như chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền ấy đều được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thế nhưng, trong một số trường hợp quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiểu là những việc pháp luật quy định bắt buộc công dân phải làm đối với xã hội, đối với người khác. Các nghĩa vụ của công dân cũng được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do đó mối quan hệ Nhà nước - công dân là mối quan hệ qua lại cùng có trách nhiệm.
Mối quan hệ Nhà nước - công dân đó thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Các nghĩa vụ của nhà nước được xác định trong Hiến pháp nói riêng, trong pháp luật nói chung dưới hình thức các nhiệm vụ của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước cụ thể hoặc dưới hình thức các quyền công dân và những đảm bảo của nó. Còn trách nhiệm của công dân đối với nhà nước và xã hội được ghi trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật dưới hình thức nghĩa vụ công dân. Các quyền và nghĩa vụ công dân được ghi nhận trong Hiến pháp được gọi là các quyền và nghĩa vụ cơ bản, trước hết vì nó xác định những mối quan hệ cơ bản nhất giữa nhà nước và công dân.
Thứ hai, vì những quyền và nghĩa vụ ấy được qui định trong luật cơ bản của nhà nước. Bởi lẽ đó, các quyền và 8 e nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu, có ý nghĩa quyết định để xác định vị trí pháp lý của công dân. Đó là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân, ở mọi cấp độ và trong mọi ngành luật. Chúng ta có thể định nghĩa quyền và nghĩa vụ cơ bản của mọi công dân như sau: Quyền cơ bản là khả năng của mỗi công dân được tự do lựa chọn hành động.
Khả năng đó được nhà nước ta ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Nghĩa vụ cơ bản là sự tất yếu phải hành động của mỗi công dân vì lợi ích của toàn thể Nhà nước và xã hội. Sự tất yếu đó được Nhà nước qui định trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả biện pháp cưỡng chế. Quyền tự do cư trú của công dân 1.
Khái niệm quyền tự do cư trú của công dân Quyền tự do cư trú nằm trong nhóm quyền con người thế hệ thứ nhất – tức nhóm quyền dân sự, chính trị. Quyền tự do cư trú có mối quan hệ mật thiết với quyền tự do đi lại, do vậy mà trong các văn bản quốc tế về nhân quyền thường quy định hai quyền này chung với nhau. Quyền này được đề cập đến trong Điều 13 UDHR, trong đó nêu rằng: Mọi người đều có quyền đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia. Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình, cũng như quyền trở về nước mình.[ 36] Quy định này sau đó được tái khẳng định và cụ thể hoá trong các Điều 12 và Điều 13 ICCPR.
Theo các khoản 1, 2, 4 Điều 12 ICCPR thì bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó; mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được trở về nước mình. 9 e Nhìn tổng quát có thể thấy rằng Điều 12 đã đề cập đến bốn dạng tự do cụ thể có mối liên kết chặt chẽ với nhau, bao gồm: tự do lựa chọn nơi sinh sống trên lãnh thổ quốc gia; tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; tự do đi khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; Tự do trở về nước mình. Tuy nhiên theo khoản 3 Điều 12 ICCPR, quyền tự do cư trú không phải là quyền tuyệt đối mà có thể bị hạn chế nếu “do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng sức khoẻ và đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác và phải phù hợp với những quyền khác được ICCPR công nhận”. Đặc điểm quyền tự do cư trú của công dân Quyền tự do cư trú là cơ sở là tiền đề để các cá nhân hưởng thụ các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế văn hoá, xã hội khác.
Ở Việt Nam nhân dân ta có câu thành ngữ “An cư lập nghiệp”. Câu thành ngữ này có thể hiểu là phải định được chỗ ở yên ổn thì nghề nghiệp, việc làm mới ổn định, phát triển được. Theo Pháp luật Việt nam, con người cần có một nơi cư trú để từ đó thực hiện các quyền con người khác như quyền học tập, quyền được hưởng các chế độ chăm sóc sức khoẻ, quyền việc làm … Pháp luật Việt Nam cũng quy định và đảm bảo cho các công dân quyền tự do cư trú. Các cá nhân được tự do cư trú, tự do chuyển đến nơi cư trú khác mà bản thân thấy phù hợp hơn, có điều kiện tốt hơn, có môi trường tốt để đáp ứng các như cầu của mình không ai có quyền ngăn cản.
Như vậy nếu không có sự tự do lựa chọn nơi cư trú, các cá nhân sẽ bị kìm kẹp, không thể tự do thực hiện các quyền con người khác. Vì thế, có thể nói rằng quyền tự do cư trú là quyền cơ bản của mỗi công dân, mỗi con người. Quyền tự do cư trú thể hiện sự tương tác giữa chủ thể có quyền và chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền. Chủ thể có quyền là cá nhân có quyền lựa chọn nơi thường trú, chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Chủ thể có quyền hưởng thụ quyền tự do cư trú, được tự 10 e do lựa chọn nơi cư trú của mình xong cũng cần phải phù hợp với pháp luật, tuân theo những giới hạn mà pháp luật đặt ra và có sự hợp tác với chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền để có thể thực hiện quyền tự do cư trú đúng các quy định của pháp luật. Mặt khác, chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền ngoài việc thực hiện nghĩa vụ kiềm chế, không can thiệp vào việc thụ hưởng quyền tự do cư trú của các cá nhân mà còn có nghĩa vụ chủ động để bảo đảm thực hiện hoá các quyền này. Chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền chủ động ban hành, thiết lập cơ chế để bảo đảm quyền tự do cư trú, thực hiện việc giáo dục, tuyên truyền để phòng ngừa ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra, chứ không chỉ đơn thuần là không can thiệp. Quyền tự do cư trú có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người.
Quyền tự do cư trú là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Trong xã hội dân chủ, con người được tự do thể hiện, tự do lựa chọn mà không được tự do lựa chọn nơi mình muốn đi đến, muốn ở thì chưa có dân chủ đúng nghĩa. Việc Nhà nước can thiệp quá sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội sẽ không đảm bảo được tự do cơ bản của công dân, không chỉ vậy, còn gây trở ngại cho sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội. Ví dụ, những trở ngại, khó khăn cho với việc tự do đi lại, cư trú sẽ làm tắc nghẽn dòng chuyển dịch lao động – mà là cốt yếu cho sự phát triển các vùng kinh tế ở các quốc gia.