Toàn văn Luận văn: Quyền hiến bộ phận cơ thể theo Bộ luật Dân sự 2005

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo bộ luật dân sự 2005, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu đề tài

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn

Cơ cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN

1.1. Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nước trên thế giới

1.2. Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

1.3. Nguyên tắc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

1.3.1. Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép

1.3.2. Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học

1.3.3. Không nhằm mục đích thương mại

1.3.4. Giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

1.4. Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

1.4.1. Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989

1.4.2. Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991

1.4.3. Bộ luật dân sự năm 1995

1.4.4. Bộ luật dân sự năm 2005

1.4.5. Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006

2. CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CỦA QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN

2.1. Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể

2.1.1. Bên hiến bộ phận cơ thể

2.1.2. Bên nhận bộ phận cơ thể người

2.1.2.1. Người nhận bộ phận cơ thể là cá nhân
2.1.2.2. Người nhận bộ phận cơ thể người để chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học

2.2. Đối tượng của quan hệ hiến bộ phận cơ thể

2.3. Nội dung quan hệ hiến bộ phận cơ thể người

2.3.1. Quyền của bên hiến bộ phận cơ thể người và điều kiện hiến bộ phận cơ thể người

2.3.2. Quyền của bên nhận bộ phận cơ thể và điều kiện nhận bộ phận cơ thể người

2.4. Hình thức, thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

2.4.1. Hình thức hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

2.4.2. Thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

2.4.3. Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người

2.4.4. Trình tự thủ tục cho phép cơ sở y tế hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người

2.5. Các hành vi bị nghiêm cấm

2.6. Trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

3.1.1. Tình hình ghép bộ phận cơ thể người và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể người tại Việt Nam

3.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

3.2. Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

3.2.1. Những vấn đề bất cập của pháp luật liên quan đến quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân hiện nay

3.2.2. Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền hiến bộ phận cơ thể theo Bộ luật dân sự 2005

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân là một vấn đề pháp lý quan trọng trong Bộ luật dân sự 2005. Quy định này không chỉ thể hiện quyền tự định đoạt của cá nhân mà còn phản ánh sự phát triển của y học và nhu cầu xã hội. Việc hiến bộ phận cơ thể không chỉ mang tính nhân đạo mà còn góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này còn gặp nhiều thách thức và cần có sự hoàn thiện trong quy định pháp luật.

1.1. Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân được hiểu là quyền của mỗi người trong việc quyết định cho đi một phần cơ thể của mình nhằm mục đích cứu chữa bệnh tật cho người khác. Quyền này được quy định rõ ràng trong Bộ luật dân sự 2005, thể hiện sự tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân.

1.2. Lịch sử phát triển quyền hiến bộ phận cơ thể

Lịch sử quyền hiến bộ phận cơ thể đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ những năm đầu thế kỷ XX, việc cấy ghép đã trở thành một phần quan trọng trong y học hiện đại. Các quy định pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể cũng đã được hình thành và phát triển theo thời gian, từ những quy định nguyên tắc đến các luật cụ thể.

II. Vấn đề và thách thức trong quyền hiến bộ phận cơ thể

Mặc dù quyền hiến bộ phận cơ thể đã được quy định trong pháp luật, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Những vấn đề này không chỉ liên quan đến pháp lý mà còn đến đạo đức và văn hóa xã hội. Việc thiếu thông tin và nhận thức về quyền hiến bộ phận cơ thể cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn hiến.

2.1. Những thách thức pháp lý trong việc hiến bộ phận cơ thể

Các quy định pháp luật hiện hành về quyền hiến bộ phận cơ thể còn thiếu tính cụ thể và chưa đầy đủ. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện quyền hiến, cũng như trong việc bảo vệ quyền lợi của người hiến và người nhận.

2.2. Vấn đề đạo đức và văn hóa trong hiến bộ phận cơ thể

Vấn đề hiến bộ phận cơ thể thường gặp phải sự phản đối từ một số tầng lớp trong xã hội do quan niệm văn hóa và đạo đức. Sự thiếu hiểu biết và lo ngại về việc hiến bộ phận cơ thể cũng là một rào cản lớn trong việc phát triển hoạt động này.

III. Phương pháp và giải pháp cho quyền hiến bộ phận cơ thể

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền hiến bộ phận cơ thể, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng và xây dựng các chương trình tuyên truyền là rất cần thiết.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về hiến bộ phận cơ thể

Cần có những quy định pháp luật cụ thể và chi tiết hơn về quyền hiến bộ phận cơ thể. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của cả người hiến và người nhận, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền này.

3.2. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục về hiến bộ phận cơ thể

Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền hiến bộ phận cơ thể là rất quan trọng. Các chương trình tuyên truyền, giáo dục có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích và ý nghĩa của việc hiến bộ phận cơ thể, từ đó khuyến khích họ tham gia.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền hiến bộ phận cơ thể

Việc nghiên cứu và ứng dụng quyền hiến bộ phận cơ thể trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều ca phẫu thuật cấy ghép thành công đã diễn ra, giúp cứu sống nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả và tìm ra các giải pháp tối ưu.

4.1. Kết quả thực tiễn từ việc hiến bộ phận cơ thể

Nhiều ca phẫu thuật cấy ghép thành công đã chứng minh được hiệu quả của việc hiến bộ phận cơ thể. Những kết quả này không chỉ giúp cứu sống bệnh nhân mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.

4.2. Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của quyền hiến bộ phận cơ thể

Cần có những nghiên cứu đánh giá cụ thể về hiệu quả của quyền hiến bộ phận cơ thể trong thực tiễn. Những nghiên cứu này sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc hiến và từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện.

V. Kết luận và tương lai của quyền hiến bộ phận cơ thể

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo Bộ luật dân sự 2005 là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Việc hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển các chương trình hỗ trợ sẽ giúp quyền này được thực hiện hiệu quả hơn trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của quyền hiến bộ phận cơ thể

Quyền hiến bộ phận cơ thể không chỉ mang lại lợi ích cho người bệnh mà còn thể hiện sự nhân đạo và tinh thần tương thân tương ái trong xã hội. Đây là một quyền cần được bảo vệ và phát triển.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai về quyền hiến bộ phận cơ thể

Trong tương lai, cần có những chính sách và quy định pháp luật rõ ràng hơn để thúc đẩy hoạt động hiến bộ phận cơ thể. Điều này sẽ giúp tăng cường nguồn cung cấp bộ phận cơ thể, đáp ứng nhu cầu cứu chữa bệnh tật cho nhiều người.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo bộ luật dân sự 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân - Chương 2 : Các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân - Chương 3 : Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân và hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân - Kết luận Với đề tài còn khá mới này ở Việt Nam, tác giả biết rằng hạn chế của mình còn nhiều, thiếu sót và lỗi không phải là ít và rất có thể Quý thầy cô và các bạn đọc có những điều không đồng ý với tác giả song tác giả cũng hy vọng có được sự ủng hộ, đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn đọc. Luận văn được hoàn thành dựa trên sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiến sỹ Phùng Trung Tập và đồng thời là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Phùng Trung tập đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này. CHƢƠNG 1 11 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN 1.

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nƣớc trên thế giới. Từ nền văn minh cổ đại, ước mơ của con người thể hiện ở các huyền thoại với mong muốn có thể gắn lại đầu, tay, chân….cho con người. Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVI từ ngữ (greffe, graft) ghép xuất phát từ tiếng Hy Lạp, greife là con dao sắc nhọn dùng để cấy ghép mô, cành tạo cây lai giống với đoạn ghép (greffon, graft) và cây chủ mang hoặc nhận đoạn ghép (porte greffe, implant, recipienti)1 Bắt đầu từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã xuất hiện việc cấy ghép một số bộ phận cơ thể (BPCT) ở gia cầm, gia súc như cấy ghép cựa gà lên mào gà, lên tai bò, cấy ghép da trên lưng cừu và cấy ghép mảnh biểu bì da tự thân lên vết thương ở người. Từ thế kỷ XX việc hiến BPCT và ghép BPCT người được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới.

Công tác ghép BPCT người được khởi đầu bằng việc ghép thận thực nghiệm và ghép thận tử thi vào người. Ở Áo năm 1902 có Emerich Ulmann thực hiện việc ghép thận trên chó và ghép thận lợn cho người. Năm 1912 ở nước Pháp có ông Elexis Carrel đã đạt giải thưởng Nobel từ việc ghép thận trên chó, kỹ thuật nối các mạch máu rửa thận bằng dung dịch Locke. Đồng thời thực hiện ghép nối chi, ghép tim phổi, ruột, lách, giáp trạng, buồng trứng, tinh hoàn trên động vật.

Việc ghép thận tử thi cho người, ghép thận tử tù cho người, ghép thận lấy từ người bệnh đột tử trên bàn mổ ghép cho người đều được các nhà khoa học của các nước như Ukraina, Hoa 1 Giáo sư - tiến sỹ khoa học Lê Thế Trung: “Chiến lược tổng thể về ghép mô, tạng và bộ phận cơ thể trong giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn đến 2020”, Tạp chí y học thảm họa và bỏng, số 1/2006, tr.7 12 Kỳ, Pháp thực hiện nhưng đều thất bại. Việc cấy ghép BPCT đã thành công thực sự từ những năm 1954 ở Pháp và Hoa Kỳ2. Các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện thành công việc ghép BPCT trên người và động vật là một thành tựu lớn trong ngành y học thế giới. Vì vậy, ghép tạng là một trong mười phát minh lớn của thế kỷ XX 3.

Khi bước sang thế kỷ XXI các nhà khoa học trên thế giới đã nhất trí nêu mười phát minh lớn tiêu biểu trong thế kỷ XX trong đó có ghép tạng đó là: máy bay, truyền hình, máy tính, năng lượng hạt nhân, laser, internet, du hành vũ trụ, kháng sinh, cấu trúc DNA và ghép tạng. Các thành tựu về kỹ thuật ghép mô, BPCT người trên thế giới đã trải qua gần nửa thế kỷ thực hiện và đã có những bước tiến rất đáng kể. Vì thế, ngày nay việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người một số nước trên thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người như Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan… + Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu.

Ở các nước Châu Âu, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã được triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ vào những thập kỷ gần đây như Pháp năm 1952, Vương Quốc Anh năm 1961, Đan Mạch, Italia năm 1967, Na-Uy năm 1973, Thụy Điển năm 1975, Hy Lạp năm 1983…các nước này đều quy định việc lấy mô, BPCT của người sống 2 Carpentier (1992), Transplantation d‟organes, Flammarion, Paris; J.Davidson (1998) “Kidney & Pancrcas Transplantation”, Landes Bioscience – Austin Texas, USA 3 Lê Thế Trung, Phạm Mạnh Hùng (2002): “Xây dựng ngành ghép tạng – Một thành tựu mới của y học Việt Nam”, Kỷ niệm 10 năm ghép thận 4/6/1992 – 4/6/2002 tạp chí thông tin y dược số 6/2002 13 phải tự nguyện, vì mục đích chữa bệnh, điều trị, nghiên cứu khoa học hoặc vì mục đích chuyên biệt. Pháp luật của các nước này quy định các nguyên tắc, điều kiện cho và sử dụng bộ phận lấy từ cơ thể người. Điều này thể hiện trong Chỉ thị của Nghị Viện Châu Âu và Hội đồng châu Âu về việc xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng và tính an toàn trong hoạt động cho, nhận, kiểm soát, xử lý, lưu giữ, cung cấp mô và tế bào người. Việc lấy BPCT người trong mọi trường hợp phải có sự đồng ý của người cho, sự đồng ý được thể hiện trước một thẩm phán và mọi người đều có quyền hiến tặng BPCT của mình trong lúc còn sống với điều kiện đã đến tuổi thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự, có quan hệ huyết thống với người nhận hoặc chứng minh được rằng đã sống chung ít nhất 2 năm với người nhận.

Chỉ thị cũng quy định để tránh tình trạng thương mại hóa cơ thể người, mọi phát minh có mục đích sử dụng trái với nhân phẩm con người, trật tự công và thuần phong mỹ tục cũng như việc giải mã một phần hoặc toàn bộ gien người sẽ không được cấp bằng sáng chế. Trong Bộ luật dân sự (BLDS) và Pháp luật y sinh cộng hòa Pháp ngày 30/1/2003 có những quy định nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm đến nhân phẩm và bảo đảm cho con người được tôn trọng ngay từ khi bắt đầu sự sống. Pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định cơ thể người là bất khả xâm phạm theo đó cơ thể, các BPCT và sản phẩm từ cơ thể người không thể trở thành đối tượng của quyền tài sản. Theo những nguyên tắc đó BLDS Cộng hoà Pháp quy định tại điều 16-2 chương II: “Tòa án có thể quyết định mọi biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm trái phép đến cơ thể người hoặc hành vi bất chính nhằm vào BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người”.

Ở Cộng hoà Pháp dân quyền được coi trọng, do vậy pháp luật Pháp có những quy định bảo vệ con người và tất cả những vấn đề liên quan đến con người. Tại các điều 16-5, 16-6 chương II BLDS Cộng hoà Pháp quy định: “Mọi thỏa thuận được giao kết nhằm mục đích sử dụng cơ thể người, các 14 BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người như một tài sản đều vô hiệu; nghiêm cấm trả thù lao cho người tự nguyện cho người khác tiến hành thí nghiệm trên cơ thể của mình, lấy BPCT của mình hoặc thu thập sản phẩm từ cơ thể mình”. Pháp luật còn quy định không ai được phép công bố bất kỳ thông tin nào cho phép xác định người cho, người nhận BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người. Người cho không được phép biết danh tính của người nhận và ngược lại.

Trong trường hợp cần thiết vì mục đích chữa bệnh, chỉ các bác sỹ của người cho và người nhận mới được phép tiếp cận những thông tin cho phép xác định danh tính của họ. + Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á Tại các nước Châu Á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như Thái Lan, Nhật Bản, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia…đều đã có luật quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người. Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT của Singgapore năm 2004, Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản năm 1997. Việc ban hành các quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người sớm tạo hành lang pháp lý cho ngành y học có thể tiến hành nghiên cứu để cứu sống người bệnh và quyền của người hiến BPCT được bảo đảm một cách chính đáng.

Chính vì những lý do trên mà số bệnh nhân được ghép mô, BPCT người ở các nước này ngày càng tăng lên nhanh chóng. Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản quy định nghiêm cấm việc mua bán nội tạng, hiến nội tạng phải nhằm mục đích ghép tạng phải tự nguyện, nội tạng dùng được ghép phải dựa trên tinh thần nhân đạo, phải xem xét trao đổi với người cần ghép nội tạng. Theo pháp luật Singapore, thì bất cứ người nào có trạng thái tinh thần khỏe mạnh và từ đủ 18 tuổi trở lên có thể cho bất cứ phần nào của cơ thể người đó cho việc giảng dạy, nghiên cứu, sự tiến bộ của y học hoặc khoa học 15 răng, điều trị hoặc ghép tạng ở bất cứ bệnh viện nào được ghép, các trường về y tế và răng, các trường đại học hoặc bất cứ cá nhân nào cho việc điều trị hoặc ghép tạng. Đạo luật cũng quy định cho những người không muốn hiến bộ phận của họ phải đăng ký sự phản đối của họ.

Người Hồi Giáo và những người trên 60 tuổi không áp dụng quy định của đạo luật. Người dưới 21 tuổi và những người mất trí không áp dụng quy định của đạo luật này trừ trường hợp bố, mẹ hoặc người giám hộ của họ đồng ý việc lấy tạng đó. Những quy định này đã giúp cho ngành cấy ghép của Singapo phát triển nhanh chóng. Trung Quốc được xem là nơi lý tưởng cho việc hiến, cấy.

ghép mô, BPCT người vì kỹ thuật ghép tạng khá tốt và giá lại rẻ (chỉ bằng khoảng nửa giá ở các nước phương tây). Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã thu hút được rất nhiều bệnh nhân châu Á, trong đó có bệnh nhân Việt Nam đến ghép tạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ