CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Một số quan niệm chung về quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề dự báo, xây dựng quy hoạch, hoạch định chiến lược giáo dục đã có nhiều tác giả T 6 3 trong và ngoài nước đề cập trong những cuộc hội thảo khoa học quốc tế, trong những công trình, tác phẩm nghiên cứu, tạp chí, sách báo.
- Tổ chức giáo dục, văn hóa, khoa học Liên hợp quốc UNESCO đã tổ chức cuộc hội thảo T 6 3 khoa học "Tương lai của giáo dục và giáo dục tương lai" năm 1978. - Hội thảo quốc tế "Phát triển những nội dung của GDPT trong hai thập kỷ tới" tổ chức T 6 3 năm 1980. - Năm 1989, công trình nghiên cứu dự báo GDPT do cố Giáo sư Hà Thế Ngữ làm chủ T 6 3 biên được in trong cuốn "Dự báo giáo dục- vấn đề xu hướng11 do Viện khoa học giáo dục Việt P P Nam xuất bản, đã đề cập đến những vấn đề dự báo sư phạm, các quan niệm về nhà trường T 6 3 T 6 3 XHCN, về xu thế phát triển GDPT, xây dựng các chỉ tiêu mô hình xuất phát của hệ thống GDPT nước ta. - Tháng 3 năm 1996, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã xây dựng "Kế hoạch phát triển GĐ-ĐT T 6 3 giai đoạn 1996-2000 và định hướng đến năm 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".
Vấn đề dự báo và quy hoạch không chỉ tiếp cận trên bình diện lớn ở tầm quốc gia mà còn T 6 3 được triển khai nghiên cứu ở các cấp quản lý khác nhau. Các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp quan trọng về mặt thực tiễn, giúp các nhà khoa học, các nhà quản lý có được cái nhìn tổng thể và hệ thống hơn về quy hoạch phát triển giáo dục. Quan niệm chung về quy hoạch Cho đến nay, tất cả các nước trên thế giới đều khẳng định rằng quy hoạch là vấn đề có ý T 6 3 nghĩa mục đích tạo ra những cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách, chương trình phát triển kinh tế- xã hội, cụ thể: - Đối với các nước công nghiệp phát triển như : T 6 3 + Anh: quỵ hoạch được hiểu là sự bố trí có trật tự, sau đó là sự tiến hóa có kiểm soát các T 6 3 đối tượng trong không gian nhất định. + Pháp: quy hoạch được hiểu là dự báo phát triển và tổ chức thực hiện theo lãnh thổ.
T 6 3 - Đối với các nước đang phát triển như : T 6 3 + Trung Quốc: quy hoạch là dự báo kế hoạch phát triển, là chiến lược để quyết định các T 6 3 hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu, từ đó quyết định các mục tiêu mới, các biện pháp mới. + Hàn Quốc: nhiệm vụ của quy hoạch là xây dựng chính sách phát triển. T 6 3 + Ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt do Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ học xuất bản năm T 6 3 1998 thì "Quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn" Chỉ thị 32/1998/CT-TTg ngày 23/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về quy trình kế T 6 3 hoạch hóa đã xác định là "đi từ xây dựng chiến lược, quy hoạch đến kế hoạch". Từ các khái niệm trên có thể hiểu quy hoạch là bước cụ thể hóa chiến lược ở mức độ toàn T 6 3 hệ thống, đó là kế hoạch hành động mang tính tổng thể thống nhất với chiến lược về mục đích, yêu cầu và là căn cứ để xây dựng kế hoạch.
Quy hoạch góp phần thực hiện chiến lược phát triển, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ra quyết định, hoạch định các chính sách, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong quản lý chỉ đạo, Quy hoạch là bước cụ thể hóa chiến lược, còn kế hoạch là bước cụ thể hóa của quy hoạch được thể hiện ở quy trình sau: CHIẾN LƯỢC T 2 1 QUY HOẠCH T 2 1 KẾ HOẠCH T 2 1 1. Quan niệm chung về phát triển Theo giáo trình về quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia thì T 6 3 "sự phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản, hay phát triển là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm của sự tiến hóa toàn cục, đặc thù cho mọi xã hội" (tập4, tr124) Thuật ngữ "phát triển" xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, với cách hiểu đơn giản T 6 3 là phát triển kinh tế, khái niệm này được bổ sung thêm nội hàm và ngày nay được hiểu một cách toàn diện hơn. Phát triển nhằm vào ba mục tiêu cơ bản: phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo ra hòa bình và ổn định chính trị. Sự phát triển giáo dục không những bao chứa các đặc thù tương tự mà còn bao hàm cả ý nghĩa chính trị và liên quan mật thiết với thể chế chính trị của quốc gia.
Một số khái niệm liên quan đến quy hoạch. Khi nghiên cứu quy hoạch ta không thể xem xét một cách độc lập, mà ta phải đặt nó T 6 3 trong mối quan hệ với một số khái niệm có liên quan như: cương lĩnh, chiến lược, kế hoạch, dự báo. Quy hoạch có nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển, tăng cường cơ sở khoa học cho việc ra quyết định, hoạch định các chính sách, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, đồng thời có nhiệm vụ điều chỉnh công tác chỉ đạo trên cơ sở những tiên đoán của quy hoạch. Nếu xét các khái niệm trên tổng phạm vi các thành tố: phạm vi thời gian các yếu tố, tính chất và cấp xây dựng thì chúng có mối liên hệ biện chứng với quy hoạch một cách chặt chẽ.
Cương lĩnh: là đường lối chỉ đạo, với mức cao nhất, tổng hợp và khái quát nhất. Nội T 2 1 T3 2 16 dung nêu lên mục tiêu tổng quát của toàn bộ hệ thống, các định hướng lớn để thực hiện mục tiêu. Đường lối chỉ đạo phải có tính hợp lý, thống nhất trong một thời gian dài và phù hợp với đường lối của hệ thống cao hơn. Chiến lược: là sự cụ thể hóa đường lối ở mức độ toàn hệ thống nhằm thực hiện được T 2 1 T3 2 16 những mục tiêu đã đề ra, trong đó cần phải xem xét kỹ mối quan hệ giữa các mục tiêu trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định, Trên cơ sở đó xác định, sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên, xác định các mục tiêu có tính khả thi cho từng giai đoạn, định hướng chỉ đạo và có bước đi thích hợp cho việc phân bố nguồn lực và các điều kiện cho các hoạt động, đề ra các giải pháp, huy động nguồn lực để đạt cho được mục tiêu đề ra.
Kế hoạch: là chương trình hành động, là sự cụ thể hóa việc thực hiện mục tiêu trong T 6 3 T1 6 32 T3 2 16 không gian, thời gian và điều kiện nguồn lực nhất định. Có sự cân đối giữa các mục tiêu và nguồn lực để đạt được kết quả có thể đánh giá và định lượng được, với nguồn lực được sử dụng tối ưu. Dự báo: là những thông tin có cơ sở khoa học về trạng thái khả dĩ của đối tương dự báo T 2 1 T3 2 16 trong tương lai, về các con đường khác nhau để đạt tới trạng thái tương lai ở các thời điểm khác nhau. Tính chất của dự báo là khả năng nhìn trước được tương lai với một độ tin cậy nhất định và ước tính được các điều kiện khách quan có thể thực hiện được dự báo đó.
Mục tiêu cuối cùng của công tác dự báo là phải thể hiện được một cách tổng hợp những kết quả dự báo theo những phương án khác nhau, chỉ ra được xu thế phát triển của đối tượng dự báo, tạo tiền đề cho việc lập kế hoạch có căn cứ khoa học. * Mối quan hệ giữa dự báo, chiến lược, kế hoạch và quy hoạch T 2 1 Dự báo là công cụ, phương tiện cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch. Kết quả dự báo T 6 3 là cơ sở khoa học cho việc vạch ra những chiến lược phát triển. Chiến lược là nền tảng để xây dựng quy hoạch, Nếu chiến lược là cách để thực hiện các T 6 3 mục tiêu trong điều kiện nguồn lực cho phép, trong không gian và thời gian nhất định, thì quy hoạch là sự cụ thể hóa chiến lược, là giải pháp cách thức sắp xếp, bố trí thực hiện chiến lược đã định nhằm đạt được mục tiêu của chiến lược.
Mục tiêu trong kế hoạch là nhằm thực hiện từng nội dung của quy hoạch và thường được T 6 3 thực hiện trong không gian hẹp, thời gian ngắn. Quy hoạch là cơ sở để các kế hoạch được xây T 6 3 T 6 3 dựng và thực hiện. Trong quy hoạch, kế hoạch thực hiện và các mục tiêu được gắn liền với nhau tạo nên sự đồng bộ, cân đối và hỗ trợ lẫn nhau. Quy hoạch làm cho kế hoạch trở thành một thể thống nhất, hợp lý trong quá trình vận hành thực hiện mục tiêu.
Quy hoạch là bước cụ thể hóa của chiến lược, còn kế hoạch là bước cụ thể hóa của quy hoạch. Nếu mục tiêu của chiến lược là mục tiêu tổng quát mà hệ thống KT-XH hoặc tiểu hệ T 6 3 thống phải đạt trong vòng 10 năm hoặc 20 năm, thì trong quy hoạch mục tiêu tổng quát được phân hoạch thành hệ thống các mục tiêu cho từng giai đoạn và bố trí sắp xếp nguồn lực hợp lý để thực hiện hệ thống mục tiêu ấy. Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các khái niệm có liên quan đến quy hoạch T 2 1 T3 2 16 T3 2 16 Nguồn tài liệu nghiên cứu xây dựng chiến lược- T 6 3 T 6 3Viện nghiên cứu phát triển giáo dục 1. Quy hoạch phát triển ngành Giáo dục- Đào tạo Từ những quan niệm chung về quy hoạch phát triển KT-XH, cho thấy quy hoạch phát T 6 3 triển ngành GD-ĐT thuộc quy hoạch phát triển các ngành và là một bộ phận của quy hoạch phát triển KT-XH.