Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phương pháp luận của Quy hoạch bảo vệ môi trường 1. Khái niệm về Quy hoạch [7] Thông thường người ta hay tưởng tượng sản phẩm quy hoạch phải là các bản đồ hay bản vẽ thiết kế và do đó làm quy hoạch tức là chuẩn bị các bản vẽ đó (có thể là các bản đồ). Chúng ta biết rằng có nhiều kiểu quy hoạch cần tới những hình vẽ hay bản đồ để trình bày các kết quả của mình; ví như quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch đường giao thông hay quy hoạch hệ thống thoát nước thải.
Tuy nhiên cũng có nhiều dạng quy hoạch khác chỉ cần đến các ký hiệu, các sơ đồ khối trình bày trên các tờ giấy mà không hề cần đến cách trình bày chính xác về hình vẽ. Theo Forster Ndubisi (1996), quy hoạch không hoàn toàn tập trung vào khoa học hay quyết định mà là vào sự tích hợp của cả hai. Để có thể hiểu một cách khái quát, chúng ta hãy làm quen với một số định nghĩa dưới đây về quy hoạch: Quy hoạch là sự tích hợp giữa các kiến thức khoa học và kỹ thuật, tạo nên những sự lựa chọn để có thể thực hiện các quyết định về các phương án cho tương lai. Quy hoạch là công việc chuẩn bị có tổ chức cho các hoạt động có ý nghĩa; bao gồm việc phân tích tình thế, đặt ra các yêu cầu, khai thác và đánh giá các lựa chọn và phân chia một quá trình hành động.
Quy hoạch như soạn thảo một tập hợp các chương trình liên quan, được thiết kế để đạt các mục tiêu nhất định. Nó bao gồm việc định ra một / nhiều vấn đề cần được giải quyết, thiết lập các mục tiêu quy hoạch, xác định các giả thiết mà quy hoạch cần dựa vào, tìm kiếm và đánh giá các biện pháp hành động có thể thay thế và lựa chọn hành động cụ thể để thực hiện (Compton, 1993). Các kiểu Quy hoạch Quy hoạch chiến lược và quy hoạch hành động. Quy hoạch chiến lược thường quan tâm đến mục tiêu chiến lược, thường là mềm dẻo, không bị ràng buộc bởi quy trình pháp luật do đó sau này có thể chỉnh lý dễ dàng hơn.
Dạng quy hoạch n 4 sau thường lấy ngân sách địa phương, thường quan tâm chủ yếu đến biện pháp và các hướng dẫn cho những hoạt động đặc trưng nào đó. Cả hai dạng quy hoạch này đều liên quan chặt chẽ với chức năng kiểm soát trong công tác quản lý và liên quan chặt chẽ với nhau. Quy hoạch tổng thể và quy hoạch chuyên ngành. Quy hoạch tổng thể hay quy hoạch chuyên ngành thường chưa đưa đến các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường mà nó chỉ là cơ sở cho các quy hoạch chi tiết sau đó.
Các nhà quy hoạch môi trường cần chú ý đến đặc điểm này. Quy hoạch chung (comprehensive) và quy hoạch chức năng. Quy hoạch chung thường định hướng vào việc quy hoạch sử dụng đất và phát triển cấu trúc vật lý, cung cấp chỉ dẫn khuôn mẫu cho các quy hoạch chức năng để có thể hướng tới các mục tiêu chung cũng như chia sẻ nguồn dữ liệu đảm bảo cho việc chọn lựa các vị trí thích hợp và phối hợp thời gian trong phát triển. Trên thực tế mối quan hệ quy hoạch chung - quy hoạch chức năng không hoàn toàn chắc chắn.
Các phương tiện giao thông, cấp nước, đố thải chất thải là then chốt cho đô thị hoá một vùng là công việc của những nhà quy hoạch chức năng chứ không phải của các nhà quy hoạch chung ( những người xác định tính chất, số lượng, vị trí của phát triển đô thị – là những nhân tố quyết định đến chất lượng môi trường). Như đã trình bày ở trên, Quy hoạch có thể được coi như một phương pháp thích hợp để tiến tới tương lai theo một phương hướng, mục tiêu do ta vạch ra; là một công cụ có tính chiến lược trong phát triển. Quy hoạch có thể là tất cả các việc hoặc khả năng kiểm soát tương lai bằng các hoạt động hiện tại, sự ứng dụng các kiến thức về nhân quả; một hình thức của quyền lực chính trị và một hành động chân thực. Kỹ thuật cơ bản của nó là các báo cáo viết kèm theo là các dự báo thống kê, các trình bày toán học, các đánh giá định lượng và các sơ đồ (bản đồ) mô tả những mối liên hệ giữa các phần tử khác nhau của bản quy hoạch.
n 5 Tạo dựng quy trình quy hoạch Xác định vấn đề mấu chốt Hình thành mục tiêu (chiến lược và cụ thể) Điều tra ĐK hiện tại và tương lai Xây dụng CS & CL Đánh giá chính sách và chiến lược Chuẩn bị bản thuyết minh quy hoạch Nộp và điều chỉnh quy hoạch Giám sát và thẩm định lại quy hoạch Hình 1. Quy trình quy hoạch đô thị kinh điển Trong những năm gần đây, hoạt động quy hoạch đã dịch chuyển từ “làm quy hoạch” sang “quá trình”, phản ảnh nhận thức sâu sắc hơn về tính chất bất định của thực tiễn và nhu cầu phải có những phản ứng liên tục. Quy hoạch và chính sách Quy hoạch gắn rất chặt với chính sách - đó là các quy định bao quát có tính hướng dẫn đối với một lớp các quy định cụ thể hơn. Chính sách có thể là các căn cứ đầu vào hay các kết quả thu nhận được từ quá trình làm quy hoạch (Lang, et all, 1980).
Chúng là một dạng của “kiểm soát”, thiết kế nhằm thống nhất các hoạt động để đạt tới các mục tiêu. Một tập hợp các chính sách quan hệ với một áp dụng của n 6 chúng theo thời gian là chiến lược vì vậy chiến lược là một tập hợp các chính sách có cùng tác dụng trong phối hợp hoạt động nhằm đạt tới một tập hợp các mục tiêu. Quy trình quy hoạch Cách tiếp cận hệ thống dường như rất thích hợp cho quy trình quy hoạch môi trường. Công trình có ý nghĩa hơn cả là do Christopher Alexanders ứng dụng cách tiếp cận này trong quy hoạch tuyến tính đối với một làng ở ấn Độ.
Ian McHarg trong tác phẩm ‘thiết kế với thiên nhiên’ (1969) đã mô tả phương thức áp dụng phép chồng chập bản đồ trong việc xác định tính thích hợp của đất đai cho các mục đích sử dụng đất khác nhau áp dụng kỹ thuật hệ thống. Quy trình quy hoạch giản đơn nhất là: Vấn đề Thông tin Quy hoạch Đánh giá Thực hiện Quy trình này phù hợp cho những trường hợp mục tiêu được xác định một cách rõ ràng. Trong thực tế vấn đề nhiều khi rất phức tạp, nhất là ở các quy mô lớn khi mà các mục tiêu như xây dựng khu nhà ở và bảo vệ sinh vật hoang dại tuy đều được thừa nhận song lại có thể khác nhau khi đánh giá về tầm quan trọng của nó. Nhiều ví dụ thực tế cho thấy quy trình quy hoạch sẽ khác nhau ít nhiều, đòi hỏi phải có quá trình thử nghiệm và đánh giá lại – nói chung quy trình quy hoạch thực tế sẽ có yêu cầu phức tạp hơn.
Mục tiêu Phân tích Phương án Dự báo Quy hoạch Quản lý 1. Khái niệm về quy hoạch bảo vệ môi trường Quy hoạch thường được hiểu là sự lựa chọn, vạch định, quy định, sắp xếp bố trí theo không gian, theo cơ cấu của những đối tượng được quy hoạch, thực hiện các định hướng, những mục tiêu của chiến lược và kế hoạch theo một thời gian nhất định nào đó. Quy hoạch và kế hoạch là hai phạm trù độc lập nhưng thống nhất với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Quy hoạch mang tính không gian hoặc cơ cấu của sự triển khai thực hiện kế hoạch.
Kế hoạch mang tính thời gian có định hướng mục tiêu n 7 cho quy hoạch, kế hoạch cụ thể các thời gian cho quy hoạch. Bởi vậy, quy hoạch có tính không gian, nhưng gắn với mục tiêu và thời gian của kế hoạch; kế hoạch có tính thời gian gắn với không gian của quy hoạch. Quy hoạch bảo vệ môi trường cũng mang đầy đủ những tính chất chung ấy. Quy hoạch môi trường có tính không gian lãnh thổ môi trường và thực hiện các định hướng, mục tiêu môi trường theo thời gian của kế hoạch môi trường.
Tuy nhiên, khái niệm quy hoạch môi trường có nhiều cách diễn đạt khác nhau: * Quy hoạch bảo vệ môi trường là “sự cố gắng làm cân bằng và hài hoà các hoạt động phát triển mà con người vì quyền lợi của mình áp đặt một cách quá mức lên môi trường tự nhiên” (John E. * Quy hoạch bảo vệ môi trường là “sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” (Alan Gilpin, 1996). * Quy hoạch bảo vệ môi trường là “quy hoạch phát triển với mục tiêu làm cho môi trường không bị ô nhiễm, không bị suy thoái, đảm bảo môi trường bền vững, được cải thiện tốt hơn cùng với sự phát triển kinh tế xã hội” (Nguyễn Thế Thôn, 2004). * Quy hoạch bảo vệ môi trường là “việc xác lập các mục tiêu môi trường mong muốn; đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát triển một/những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra”.
Quy hoạch bảo vệ môi trường cụ thể hoá các chiến lược, chính sách về bảo vệ môi trường và là cơ sở để xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động môi trường [7]. Như vậy, quy hoạch bảo vệ môi trường được hiểu là việc xây dựng các định hướng, mục tiêu môi trường; đề xuất các giải pháp tối ưu nhằm đảm bảo môi trường sống tốt đẹp cho mọi người, bảo vệ môi trường sống cho các hệ sinh vật trong sự phát triển bền vững của hệ kinh tế, xã hội và môi trường theo các định hướng, mục tiêu và thời gian của kế hoạch, phù hợp với trình độ phát triển nhất định. n 8 Quy hoạch bảo vệ môi trường được xây dựng trên cơ sở các định hướng, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch của huyện, thành phố, của các ngành, trong đó: phân tích hiện trạng môi trường, dự báo các tác động môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ, cải thiện môi trường theo mục tiêu PTBV. Sự cần thiết và mục tiêu của Quy hoạch 1.
Sự cần thiết của Quy hoạch Mọi sự vật đều phát triển theo không gian và thời gian. Môi trường sống của con người và mọi thể sinh vật cũng tồn tại và phát triển theo không gian và thời gian.