Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động tỉnh Kon Tum đang đối mặt với bài toán nan giải về giải quyết việc làm cho lực lượng lao động yếu thế. Toàn tỉnh hiện có khoảng 309.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 58% tổng dân số. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của địa phương đạt 49,0%, nhưng tỷ lệ qua đào tạo nghề mới chỉ đạt 32,0%. Đa số lao động là người đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng sâu, vùng xa chưa qua đào tạo chuyên môn, chủ yếu mưu sinh dựa vào nông lâm nghiệp tự nhiên với năng suất thấp và bấp bênh. Thực tế năm 2017 ghi nhận toàn tỉnh chỉ tổ chức được 1 phiên giao dịch việc làm với 2.550 lượt người được tư vấn giới thiệu việc làm, con số rất khiêm tốn so với tiềm năng nguồn nhân lực.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Y Dương Na Ly tập trung làm rõ thực trạng và xác định điểm nghẽn trong quản lý nhà nước về công tác giới thiệu việc làm cho người đồng bào dân tộc thiểu số tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum. Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, kết nối cung - cầu lao động hiệu quả và thúc đẩy giảm nghèo bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên địa bàn tỉnh Kon Tum với nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2018 và dữ liệu sơ cấp thu thập trong các năm 2018 - 2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng tỷ lệ giải quyết việc làm cho hơn 90% lao động dân tộc thiểu số có nhu cầu, đồng thời giữ vững ổn định an ninh chính trị tại địa bàn ngã ba Đông Dương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bửu (2005), cùng khung phân tích thể chế thị trường lao động của Phan Huy Đường (2015). Quản lý nhà nước về việc làm được xác định là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực pháp lý nhằm phân bổ hợp lý nguồn nhân lực xã hội. Luận văn chuẩn hóa 3 khái niệm cốt lõi theo quy định hiện hành:

  • Việc làm theo Điều 13 Bộ luật Lao động và khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1983: Mọi hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp không bị pháp luật cấm.
  • Giới thiệu việc làm theo Điều 36 Luật Việc làm năm 2013: Cầu nối dịch vụ thu thập thông tin, tư vấn và cung ứng lao động đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động.
  • Dân tộc thiểu số theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP: Các dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên lãnh thổ Việt Nam, sở hữu đặc trưng văn hóa cộng đồng và sinh kế gắn liền với tài nguyên bản địa.

Nội dung quản lý nhà nước được đánh giá dựa trên 5 trụ cột: ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức bộ máy; quy hoạch mạng lưới; cấp phép, quản lý hoạt động và công tác thanh tra, kiểm tra.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum giai đoạn 2013 - 2018, các báo cáo chuyên đề của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum và dữ liệu quản lý tại Trung tâm Dịch vụ việc làm.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng bằng bảng hỏi cấu trúc thang đo Likert 5 mức độ:

  • Cỡ mẫu khảo sát gồm 200 phiếu phát ra cho cán bộ quản lý và các cơ sở giới thiệu việc làm (thu về 195 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 97,5%).
  • Cỡ mẫu khảo sát người đồng bào dân tộc thiểu số gồm 100 phiếu (thu về 92 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 92,0%).
  • Tổng số mẫu hợp lệ đưa vào phân tích là 287 mẫu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, tần số và kiểm định độ tin cậy trên phần mềm SPSS là nhằm lượng hóa chính xác mức độ đồng thuận của các chủ thể đối với từng tiêu chí quản lý, loại bỏ cảm tính chủ quan khi đánh giá chính sách công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu khảo sát 287 mẫu thực tế đã chỉ ra nhiều phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy hoạch mạng lưới cơ sở dịch vụ việc làm bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Có tới 84,0% ý kiến đánh giá mạng lưới phân bổ chưa hợp lý (58,0% hoàn toàn không đồng ý và 26,0% không đồng ý). Bên cạnh đó, 82,0% nhận định việc phân bố các điểm dịch vụ chưa phù hợp với điều kiện địa lý miền núi (36,0% hoàn toàn không đồng ý và 46,0% không đồng ý). Toàn tỉnh chỉ có 1 trung tâm công lập đặt tại thành phố, khiến đồng bào vùng sâu vùng xa rất khó tiếp cận.

Thứ hai, hiệu quả vận hành bộ máy chưa tương xứng với yêu cầu thực tế. Mặc dù 58,0% đồng ý bộ máy có tính linh hoạt, nhưng có đến 34,0% người được hỏi không đồng ý và 37,0% đánh giá ở mức bình thường về hiệu quả thực thi chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý.

Thứ ba, công tác truyền thông và hướng dẫn văn bản pháp luật còn khoảng cách lớn so với văn hóa bản địa. Có 26,0% ý kiến nhận xét văn bản hướng dẫn còn khó hiểu, thiếu cụ thể và 28,0% đánh giá cán bộ tuyên truyền chưa thực sự sâu sát, thiếu am hiểu phong tục tập quán của từng tộc người.

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra được ghi nhận tích cực về tính minh bạch nhưng còn thưa thớt về tần suất. Có 72,0% đồng ý quy trình kiểm tra diễn ra khách quan, công bằng và 86,0% đánh giá thái độ cán bộ kiểm tra phù hợp, không gây sách nhiễu. Tuy nhiên, 37,0% cho rằng số lượt và thời điểm kiểm tra trong năm mới dừng ở mức trung bình.

Thảo luận kết quả

Khi mô phỏng dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh liên tỉnh, sự chênh lệch về hiệu quả kết nối lao động hiện lên rất rõ nét. Trong khi tỉnh Bình Dương đạt 127.154 lượt giới thiệu việc làm qua 25 phiên, tỉnh Đắk Lắk đạt 30.529 lượt qua 13 phiên, thì tỉnh Kon Tum chỉ đạt 2.550 lượt qua 1 phiên duy nhất trong năm 2017.

Nguyên nhân chính xuất phát từ địa bàn rộng, giao thông chia cắt và chất lượng nguồn nhân lực thấp với 32,0% lao động qua đào tạo nghề. Đồng bào dân tộc thiểu số quen với tập quán sản xuất truyền thống, có tâm lý e ngại cái mới. Đội ngũ nhân viên tư vấn thiếu chuyên môn sâu về văn hóa tộc người và chưa được trang bị đầy đủ công cụ chuyển đổi số. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương về sự chia cắt của hệ thống dịch vụ việc làm tại các tỉnh miền núi, khẳng định sự cần thiết phải tái cấu trúc toàn diện hoạt động dịch vụ việc làm công.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tháo gỡ triệt để các rào cản, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền gắn với văn hóa từng tộc người: Xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Kon Tum đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin việc làm chính thống lên 80% trước năm 2025.
  • Phát huy vai trò nòng cốt của già làng, trưởng bản và người có uy tín: Thiết lập mạng lưới hơn 100 cộng tác viên việc làm tại các thôn bản vùng cao giai đoạn 2021 - 2023. Sử dụng uy tín của già làng người Xơ Đăng, trưởng dòng họ người Mông để vận động thanh niên tham gia học nghề và định hướng việc làm phi nông nghiệp.
  • Triển khai phương pháp đào tạo và tư vấn theo mô hình "Cầm tay chỉ việc": Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum cần chuyển đổi từ tư vấn lý thuyết sang mô hình trình diễn kỹ năng trực quan, thực hành thực tế. Mục tiêu phấn đấu đạt trên 70% lao động dân tộc thiểu số sau đào tạo nghề ngắn hạn có việc làm ổn định trong vòng 6 tháng.
  • Mở rộng mạng lưới điểm giao dịch việc làm lưu động và nâng cấp hạ tầng: Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cần bố trí ngân sách đầu tư trang thiết bị, tăng tần suất tổ chức từ 1 phiên lên tối thiểu 12 phiên giao dịch việc làm mỗi năm tại các huyện nghèo như Tu Mơ Rông, Kon Plông, Đăk Glei trong giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lao động (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh): Sử dụng bộ chỉ số đánh giá 5 tiêu chí quản lý để rà soát, hoàn thiện cơ chế phân cấp và ban hành chính sách hỗ trợ việc làm đặc thù cho vùng đồng bào thiểu số.
  • Ban Giám đốc và cán bộ Trung tâm Dịch vụ việc làm: Vận dụng mô hình tư vấn "Cầm tay chỉ việc" và phương thức kết nối thông qua già làng để cải tiến chỉ tiêu tuyển dụng, nâng quy mô tư vấn từ mức 2.550 lượt hiện tại lên mức cao hơn.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản lý công: Tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp định tính, quy trình xử lý dữ liệu SPSS trên cỡ mẫu 287 phiếu điều tra thực chứng.
  • Doanh nghiệp tuyển dụng và các tổ chức phát triển xã hội: Nắm bắt đặc điểm tâm lý, tập quán sinh kế của người lao động dân tộc thiểu số để xây dựng chính sách đãi ngộ, bố trí việc làm và môi trường lao động phù hợp, giảm tỷ lệ bỏ việc.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh Kon Tum mới chỉ đạt mức 32,0%?

Tỷ lệ này bắt nguồn từ xuất phát điểm kinh tế thấp, hạ tầng dạy nghề tại các huyện vùng sâu còn thiếu thốn và nhận thức của đồng bào về học nghề chưa cao. Phần lớn thanh niên dân tộc thiểu số phải phụ thuộc vào nương rẫy, thiếu điều kiện tài chính để theo học các khóa đào tạo dài hạn tại trung tâm tỉnh.

Quy mô mẫu 287 phiếu khảo sát có đảm bảo tính đại diện khoa học không?

Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, bao gồm 195 phiếu hợp lệ từ cán bộ quản lý (đạt tỷ lệ 97,5%) và 92 phiếu hợp lệ từ người lao động dân tộc thiểu số (đạt tỷ lệ 92,0%). Tỷ lệ phản hồi cao cùng cơ cấu đa dạng đảm bảo độ tin cậy cho các kiểm định thống kê trên SPSS.

Điểm hạn chế lớn nhất trong quản lý dịch vụ việc làm tại Kon Tum là gì?

Hạn chế lớn nhất là mạng lưới dịch vụ việc làm phân bổ không đều khi có tới 84,0% ý kiến đánh giá chưa hợp lý. Toàn tỉnh chỉ có 1 trung tâm dịch vụ việc làm công lập, chưa có văn phòng đại diện tại các huyện nghèo khiến kết nối cung - cầu bị gián đoạn.

Phương pháp "Cầm tay chỉ việc" mang lại lợi ích cụ thể gì cho lao động dân tộc thiểu số?

Phương pháp này xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và lý thuyết phức tạp bằng cách hướng dẫn thao tác trực tiếp trên công cụ, máy móc. Cách tiếp cận trực quan giúp người học nắm bắt nhanh kỹ năng nghề, tự tin hòa nhập vào môi trường sản xuất công nghiệp và đạt tỷ lệ có việc làm trên 70%.

Luận văn đề xuất giải pháp nào để tăng số lượng phiên giao dịch việc làm?

Tác giả kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bổ sung kinh phí lưu động, giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các huyện tổ chức định kỳ 12 phiên giao dịch việc làm/năm tại cơ sở, thay vì chỉ 1 phiên/năm như giai đoạn trước.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động giới thiệu việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại địa bàn đặc thù miền núi.
  • Phân tích thực chứng 287 mẫu điều tra chỉ ra điểm nghẽn lớn trong mạng lưới phân bổ dịch vụ khi 84,0% người tham gia khảo sát đánh giá chưa hợp lý.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp thực tiễn gắn chặt giữa đào tạo nghề "Cầm tay chỉ việc" với phong tục tập quán và vai trò của già làng, trưởng bản.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2021 - 2025 với mục tiêu tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm/năm và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 50%.
  • Các cơ quan quản lý và cơ sở dịch vụ việc làm cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị này thành chương trình hành động thực tế nhằm bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.