Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác giới thiệu việc làm; 16 Chương 2: Thực trạng Quản lý Nhà nước về công tác giới thiệu việc làm cho người đồng bào DTTS tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum; Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý Nhà nước về công tác giới thiệu việc làm cho người đồng bào DTTS tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum. 17 CHUONG 1 CO SO LY LUAN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE CONG TAC GIOI THIEU VIEC LAM 1. KHÁI QUÁT VE GIOL THIEU VIEC LAM VA QI LY NHA NUOC VE GIOI THIEU VIEC LAM 1. Khái niệm việc làm Theo Bộ luật Lao động Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa iệt Nam (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007) quy địnÌ : “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguôn thu ni không bị pháp luật cắm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13.
Bộ Luật Lao động). Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tô chức Lao động quốc tế (ILO) da dua ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Ngưởi có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [ 5, tt. Giới thiệu việc làm GTVL là một quá trình trong đó các cơ sở GTVL đã có các thông tin về chỗ làm việc trồng và cung cấp các thông tin đó cho người lao động để người lao động có thể tìm hiểu và thỏa thuận về việc làm với người sử dụng lao động, hoặc các cơ sở GTVL có thể cung cấp thông tin cần thiết về người lao động cho chủ sử dụng lao động để họ có thể tiếp xúc với người lao động và có thé đi đến các thỏa thuận về tuyển dụng lao động khi thấy phù hợp. Khái niệm GTVL tại Việt Nam mới được thừa nhận từ năm 1994, khi Quốc hội thông qua Bộ Luật Lao động.
Theo tỉnh thần của Bộ Luật Lao động, Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm thì hoạt động GTVL thuộc 18 lĩnh vực hoạt động xã hội, do Nhà nước hoặc các đoàn thể, hội quần chúng tổ chức. Để thực hiện hoạt động trong công tác GTVL hàng năm Nhà nước dành một khoản ngân sách chỉ hỗ trợ các tổ chức GTVL. Theo Bộ Luật Lao động, Nghị định có liên quan và dựa vào thực tiễn hoạt động quy định các chức năng chính của Trung tâm GTVL ở Việt Nam gồm: - Đăng ký ghi danh người tìm việc và giúp họ tìm việc làm; - Tư vấn và hướng dẫn cho người tìm việc, học sinh rời ghế nhà trường; - Tu van cho người tìm việc các cơ hội việc làm và lựa chọn ngành nghề đào tạo. Theo điều 36 chương 5 của Luật việc làm năm 2013: Ích vụ việc làm bao gom: te van, GTVL; cung ứng và tuyển lao động theo yêu câu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cắp thông tin về thị trường lao động ”.
Cũng theo điều này “7ổ chức dịch vụ việc làm bao gôm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm”. Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp, GTVL không trực tiếp tạo ra việc làm. Việc làm là sản phẩm của đầu tư, nó phụ thuộc vào nhận thức và hành động của Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân những người ra quyết định đầu tư một cách có ý thức vào ngành nghề sản xuất với mong muốn tạo ra lợi nhuận. Thông qua đầu tư xuất hiện cầu về lao động mà hệ thông GTVL có thể giúp họ thỏa mãn bằng cách giới thiệu người tìm việc thích hợp cho các doanh nghiệp.
Giới thiệu vệc làm không tạo ra việc làm nhưng có thể trợ giúp để người lao động có việc làm. Như vậy, GTVL hiện nay được thé hiện bằng những công việc phục vụ cho 2 nhóm đối tượng chính: ~ Nhóm đối tượng là NLĐ: hoạt động chính phục vụ nhóm đối tượng này là GTVL. Bên cạnh đó là các hoạt động như: tổ chức huấn luyện giảng dạy các kỹ năng về nghề nghiệp việc làm, các kiến thức liên quan đến việc làm, cung cấp các thông tin về thị trường lao động, tư vấn mức lương, chế độ lao động, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. 19 - Nhóm đối tượng là người sử dụng lao động: bao gồm các hoạt động cung ứng lao động theo đơn đặt hàng, thông tin dụng của doanh nghiệp hoặc người sử dụng lao động, tổ chức huấn luyện đội ngũ lao động cho doanh nghiệp, cung cấp các thông tin về mức lương và các chế độ đãi ngộ trên TTLĐ.
Khái niệm về dân tộc thiểu số “Dân tộc thiểu số được định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Nghị Định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như sau: " Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số ít hơn so với dân tộc trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”. Đặc điểm người dân tộc thiểu số Công đồng các dân tộc Việt Nam với những đặc điểm cơ bản: (1). Nước ta gôm nhiều thành phân dân tộc khác nhau theo các tiêu chí: Sắc thái văn hóa đặc trưng và có tên gọi dân tộc(tộc người); có ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) và có ý thức tự giác tộc người. Mỗi thành phần dân tộc không phải là một tập hợp biệt lập, riêng lẽ về chính trị - xã hội,mà là một bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
Các thành phần dân tộc có quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội không đêu nhau. Các dân tộc cư trú đan xen nhau, phân tắn trên mọi vùng miễn của đất nước, không có lãnh địa riêng của từng dân tộc. Dân số các dân tộc không đều nhau, dân tộc đa số là dân tộc đông nhất, các dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số(DTTS). (6) Phân lớn các dân tộc sinh sống ở vùng cao, miễn núi, vùng sâu vùng xa là những nơi mà kết cấu hạ tầng, mặt bằng dân trí còn rất thấp kém so với các vùng khác.
Nhìn chung, người đồng bào DTTS tập trung chủ yếu ở vùng núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa là địa bàn cư trú có vị trí chiến lược đặc biệt quan 20 trọng về quốc phòng an ninh, có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạn tầng yếu kém; Xuất phát điểm và trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp, thường bị ảnh hưởng bởi thiên tai như sạt lở đất, lũ lụt, hạn hán,.Đời sống của đa số đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn. Chính vì thế, cuộc sống và việc làm của người dan dé roi vao tinh trang bap bénh, không ổn định, khó duy trì, trình độ dân trí thấp, nhiều tiềm ẩn nguy cơ mắt ổn định an ninh, chính trị. Như vậy, trên cơ sở đặc điểm của người dân tộc thiểu số ở từng vùng, từng địa phương, công tác GTVL cần có cách tiếp cận cũng như phương thức tuyên truyền vận động phù hợp với trình độ dân trí của từng dân tộc.
với những đặc thù riêng trên cơ sở tôn trọng, vận dụng và phát huy đa dạng văn hóa, trí thức bản và giá trị đặc sắc của từng tộc người nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của đồng bảo dân tộc thiểu số, thúc đầy sự phát triển của vùng, đồng bào dân tộc thiểu số và của toàn xã hội. Đặc điểm việc làm của lao động người đồng bào DTTS Theo “Các nhà kinh té chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là điều kiện cơ bản đâu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế.chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [C.Ăngghen: Toàn tập. Chính trị quốc gia, Hà Nội,1994.
64] "Lao động trước hắt là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tr cách là một lực lượng của tự. Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó, và làm thay đối tự nhiên, con người cũng đông thời làm thay đổi bản tính của chính nó" [C.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà 21 Nội, 2004, 1.266 Vậy, có thể hiểu lao động DTTS là toàn bộ các hoạt động tạo ra sản phẩm, của cải vật chất của người DTTS.
Do địa bàn cư trú và trình độ học vấn nên chủ yếu người lao động DTTS là lao động phổ thông tham gia trong lĩnh vực nông — lâm nghiệp. Có thể khái quát một số đặc điểm việc làm của lao động người đồng bào DTTS như sau: Thứ nhất, Việc làm của lao động DTTS chủ yếu là việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp: Lao động DTTS chậm thích nghỉ hơn với làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp, những việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp của lao động DTTS cũng chủ yếu là trên những ngành nghề truyền thống và du lịch trên cơ sở khai thác bản sác văn hóa dân tộc Nguồn lao động dồi dào, độ tuổi lao động kéo dài (từ Š tuổi tới 55,60 tuổi). Tuy nhiên, với trình độ lao động thấp, chỉ đáp ứng các công việc đơn giản, thiếu định hướng mang tính ôn định và chịu tác động nhiều từ thiên nhiên, nên việc làm còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính mình, mang tính thủ công và có thu nhập thấp. Chính vì vậy, ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm hữu hình.
Thứ hai, Việc làm của lao động DTTS mang tính cộng đông cao: Đồng bào các dân tộc thiểu số có đặc điểm là tính cộng đồng của họ rất cao, họ luôn tôn trọng già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, tôn trọng cán bộ. cuộc sống luôn dựa vào cộng đồng Tính cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu số được thể hiện không chỉ ở trong các hoạt động văn hóa hay sinh hoạt hàng ngày mà còn ở cả trong các hoạt động sản xuất. Thứ ba, Việc làm của lao động người đồng bào DTTS có đặc điểm chủ yếu là làm theo kinh nghiệm.