CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN THI TRUONG CUA CÔNG TY TÀI CHÍNH 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Ở nước ngoài, đã có một số công trình nghiên cứu của nhiều tác giải nổi tiếng về loại hình công ty tài chính, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và thị trường tài chính nói chung như sau: “Financial sector Reform and Central banking in Centrally Planned Economies” (Cai cách khu vực tài chính và ngân hàng trung ương ở các nên kinh tế tập trung (1990) , tác gia V. Sundararajan đã chỉ ra một số giải pháp cải cách tài chính theo xu hướng tự do hoá; nêu một số luận điểm liên quan đến yếu tố lãi suất; sự liên quan giữa lãi suất, tiền tệ và kiểm soát tiền tệ, lãi suất nội địa với lãi suất bên ngoai.[33] Central Bank Reform in the Transition Economies (Cải cach ngân hang nhà nước ở các nên kinh tế chuyển đổi) May 1996, IMF của các tac giả Sundararajan, V.
Bài viết bàn về cải cách hệ thống ngân hàng nói chung, trong đó đặc biệt lưu ý đến việc thực hiện chức năng thanh tra và giám sát. Nhất là đối với các ngân hàng thương mại. Trong qúa trình hội nhập vào kinh tế thế giới và khu vực những yêu cầu mang tính phổ biến như “tạo sân chơi bình đăng”, “cạnh tranh hợp pháp”, “chống bảo hộ và độc quyền”, “công khai, minh 32c Ano) 66 bạch”, “nới lỏng tiến tới tự do hoá”. Điều đó hàm ý rằng, hoạt động giám sát ngân hàng sẽ phải được thay đổi một cách căn bản trên cơ sở tập trung hoá, hướng đến mục tiêu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tô chức tải chính, phù hợp với thông lệ quốc tế.
[32] Trong cuốn “Principles of Corporate Finance” (Những nguyên tắc của công ty tài chính), New York: McGraw-Hill and McGraw-Hill Irwin, xuất bản lần đầu năm 1981, tái bản lần thứ 11 năm 2014. Tác giả nói đến quá trình hình thành và sử dung các của cải trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu, đặc biệt là với các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính. Vì vậy cân đê cao việc tuyên dụng nhân sự quản lý cấp cao có kinh nghiệm về quản trị rủi ro, phát triển thị trường dé đại diện lợi ích của các chủ sở hữu va ra các quyết định. [31] Cuốn The Development and Regulation of non-Bank Financial Institutions, the World Bank, Washington D.
cua Jeffrey Carmichael and Michael Pomerleano (2011), (Phát triển và quản lý các tổ chức tài chính phi ngân hàng). Trong cuỗn sách này, các tác giả chỉ ra rằng các tô chức tài chính phi ngân hàng đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các nhà lập chính sách cần tạo ra cơ cấu chính sách hợp lý và môi trường kiểm tra, giám sát hiệu quả, giảm thiểu rủi ro bên cạnh những cơ hội và thách thức đối với các quốc gia trong quá trình hội nhập. Những t6 chức tài chính phi ngân hàng được đề cập đến gồm ngành bảo hiểm, các quỹ tương hỗ, các công ty tài chính và cho thuê tài chính cũng như các thị trường chứng khoán.; Ocampo, José Antonio Oxford.
Oxford University Press.The initiative for policy dialogue series. Trong bai nay, tác giả thé hiện quan điểm đề cao vai trò của tự do hóa thi trường tai chính trên thé giới và cho phép đa dạng hóa các chủ thể kinh doanh trên thị trường bên cạnh tổ chức NHTM làm nòng cốt, cần có sự tham gia của các quỹ đầu tư tín thác, công ty bảo hiểm, công ty tài chính tiêu dùng, công ty cho thuê tài chính. Các tập đoàn lớn tùy theo quy mô có thê thành lập riêng các Công ty Tài chính của mình. [27] Và một số công trình khác liên quan đến cơ cau hợp tác tài chính ở các nước đang phát triển, thị trường vốn v.
Nhìn chung, các công trình này đã đi sâu phân tích về thị trường tài chính và hoạt động của công ty tài chính trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt các tác giả quan tâm đến các điều kiện của các nước đang phát triển và chuyên đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhằm làm rõ vai trò của các công ty tài chính, nói cách khác cũng làm rõ quy mô thị trường của các công ty tài chính. Cac công trình nghién CỨU trong nước Vào những năm 90, nhiều Tổng công ty Nhà nước đã chuyền sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế (trong đó có các ngành dầu khí, điện lực, bưu chính viễn thông, than khoáng sản, dét may, công nghiệp tàu thuỷ, cao su va tài chính bảo hiểm - Bảo Việt) gắn với nhiều hình thức sở hữu, hoạt động theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Tuy nhiên, một trong những khó khăn lớn của các tập đoàn kinh tế Nhà nước là van đề huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn dé triển khai các dự án sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay. Đó là lý do quan trọng dẫn tới sự ra đời của các công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh tế hoặc thuộc các tổng công ty Nhà nước.
Từ nhu cầu thực tế này nhiều công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến thị trường tài chính và hoạt động của các công ty tài chính cũng xuất hiện nhiều hơn. Bài viết “Thành lập các CTTC ở Việt Nam - nguồn lực dẫn vốn” của tác giả Nguyễn Dương Trên Tạp chí Thương mại số 13/2008. Cùng với việc đề cập đến làn sóng thành lập các Công ty Tài chính trực thuộc các tập doan/téng công ty và khang định ý nghĩa của Công ty Tài chính trong việc góp phần tạo kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, tác giả cũng trích dẫn ý kiến lo ngại của ông Martin Rama, chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam khang định “Việc thanh lập tập đoàn kinh tế 6 ạt, xin thành lập CTTC cũng như xin thành lập ngân hàng đã được cảnh bdo ẩn chứa nhiều bắt lợi, không chỉ đối với hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam mà còn cả với nên kinh tế. Bài học của Chi-lé, một trong những nước đã trải qua chang đường chuyển doi như Việt Nam cũng đã gặp bat 6n vào năm 1998 bởi sự đồ vỡ của mô hình này khi việc cho vay trong nội bộ tập đoàn không được kiểm soát chặt chẽ như cơ chế giám sát hoạt động ngân hàng ”.[1 1] Trong bài viết “Quản trị rủi ro tín dụng tại các CTTC trong các tập đoàn kinh tế theo khuyến nghị của Ủy ban Basel” trên Tạp chí Thương mại số 1+2/2013, tác giả Phùng Việt Hà đã có bảng số liệu khảo sát hoạt động quản tri rủi ro tín dụng tại Tổng công ty Tài chính cô phan Dầu khí Việt Nam (CTTC quy mô lớn nhất ở Việt Nam thời điểm đó), số liệu cho thấy trong giai đoạn từ 2007-2010, dư nợ càng tăng thì nợ xấu càng cao và luôn vượt giới han an toàn đối với TCTD.
đề cập đến hoạt động của các công ty tài chính trên thế giới, ở Việt Nam và một số vấn đề có tính chất nghiệp vụ; Và nhiều Luận án được hoàn thành trong giai đoạn này, như: + Luận án Phó Tiến sỹ khoa học kinh tế của Tiến sỹ Vũ Duy Hào, được thực hiện năm 1996 tại Đại học Kinh tế Quốc dân với nghiên cứu “Giải pháp hoàn thiện và phát triển các loại hình trung gian tài chính ở nước ta hiện nay”.Thời điểm này Việt Nam chưa có CTTC nào được ra đời. Luận án của tác giả xem xét gợi ý về những loại hình trung gian tai chính (bên cạnh NHTM) như công ty cho thuê tài chính, CTTC, công ty bảo hiểm. nhằm làm phong phú cho thị trường tài chính và thêm nhiều sự lựa chọn cho các đối tượng khách hàng khác nhau trên cơ sở khai thác ưu điểm của từng mô hình.[ 15] + Luận án tiến sỹ kinh tế của Hồ Kỳ Minh (2002) về Giải pháp phát triển Công ty tài chính Bưu điện; + Luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Công Diệu (2002) về Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển công ty tài chính ở Việt Nam; + Luận văn thạc sỹ kinh tế của Hoàng Đình Chiến (2001) về Giải pháp hoàn thiện và phát triển các công ty tài chính trong các tông công ty Nha nước ở Việt Nam hiện nay; + Luận văn thạc sỹ kinh tế của Ngô Anh Sơn (2002) về Giải pháp phát triển các nghiệp vu của Công ty tai chính Dệt may. + Năm 2009, tại Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả Tống Quốc Trường cũng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Hoat động của Công ty Tài chính Dau khí thuộc Tập đoàn Dau khí Việt Nam: Kinh nghiệm và giải pháp”.
Thực trạng hoạt động của Công ty Tài chính Dầu khí — được thành lập năm 2000 — đã được phan ánh khá đầy đủ và rõ nét trong đề tài. Trên cơ sở phân tích những định hướng hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tác giả đã đề xuất phương hướng hoạt động và giải pháp, kiến nghị dé Công ty Tài chính Dầu khí tiếp tục phát huy vai trò tốt hơn trong nội bộ Tập đoàn cũng như trên thị trường tài chính. Nội dung nghiên cứu của các tác giả trong các bài viết hay luận án đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt động của công ty tài chính, đặc biệt là công ty tài chính thuộc các tổng công ty hay tập đoạn kinh tế Nhà nước với mục đích làm rõ hơn những vấn đề ly luận và thực tiễn hoạt động của các công ty tài chính ở nước ta vào những năm chuyên đôi mô hình hoạt động cho các công ty Nhà nước. Đồng thời, đề xuất những giải pháp thúc đây hoạt động và phát triển của các công ty tài chính.
Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thời gian nhiều công ty tài chính vừa được hình thành, mới bắt đầu đi vào hoạt động trong điều kiện Việt Nam chưa hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới như hiện nay. Những luận án hoàn thành trong những năm gần đây đã quan tâm nghiên cứu hơn đến hoạt động của các công ty tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực sâu rộng hơn.