Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển NNL khu vực HCC. Thực trạng công tác phát triển NNL khu vực HCC thành phố Quảng Ngãi trong thời gian qua. Hoàn thiện công tác phát triển NNL khu vực HCC thành phố Quảng Ngãi.
Trong những năm gần đây, vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực hành chính được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, nhiều công trình đã được xuất bản và phổ biến rộng rãi trong xã hội, đáng chú ý là một số công trình sau: - Đề tài khoa học cấp Bộ “X4y dung va phat triển nguôn nhân lực trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (2006) do PGS. Võ Xuân Tiến làm Chủ nhiệm. Đề lã làm rõ những lý luận cơ bản liên quan đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong khu vực hành chính công; đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đang hoạt động trong khu vực hành chính cấp quận (huyện), phường (xã), mà chủ yếu là đội ngũ cán bộ chủ chốt ở thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp có tính khoa học, khả thi để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực hành chính đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
- Luật cán bộ, công chức của nước ta có quy định rõ: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bồ nhiệm và ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cắp huyện. và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Liệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nwéc. Từ đó, việc phân loại công chức khu vực HCC được cụ thể, giúp cho việc xây dựng quy hoạch, đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung, công tác; đồng thời, phân loại công chức còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thê hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của công chức. - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã xây dựng Đề án “Tiép tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”, Đề án đã đề cập đến tình hình và nguyên nhân phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; phân tích rõ quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong công cuộc đổi mới thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; đề ra nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới để từng bước xây dựng bộ máy Nhà nước theo hướng đồng bộ, tỉnh gọn, có tính ôn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức với số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng yêu cẳ „ nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới - Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (khéa XVIII) ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/10/2011 về đây mạnh phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 ~ 2015 và định hướng đến năm 2020.
Nghị quyết đã đánh giá những kết quả đạt được, những hạn c¡ 'u kém phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2007 — 2010 và đề ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 201 1 ~ 2015 và định hướng đến năm 2020. ~ Với mục tiêu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ngãi đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, đáp ứng. yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, góp phần đưa Quảng Ngãi cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 27/10/2011 về đây mạnh phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020. Nghị quyết đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu về nguồn nhân lực của tỉnh đến năm 2015, 2020; đồng thời cũng xác định những nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện để đạt được mục tiêu trên.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 458/2008/QĐ-UBND ngày 26/12/2008 về Quy định chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp Đại học về công tác ở cấp xã, phường, thị. Trong đó quy định rõ điều kiện được hưởng chính sách; hồ sơ, thủ tục, thầm quyền quyết định tuyển dụng; chính sách đãi ngộ và hỗ trợ; trách nhiệm vật chất của người được hưởng chính sách thu hút cán bộ về công tác tại cấp xã. Tất cả các công trình nói trên, ở mức độ khác nhau đã cung cấp một số tư liệu, lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khu vực hành chính công. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại trên địa bàn thành phó Quảng Ngãi vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về phát triển nguồn nhân lực khu vực hành chính công đẻ hệ thống lý luận và thực trạng dưới góc độ kinh tế phát triển.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC KHU VỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực &. Nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “lao động”, “sức lao động” và “lực lượng lao động”.
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với sự chuyển đôi từ quá trình sản xuất công nghiệp theo lối cổ truyền sang quá trình sản xuất theo các công nghệ kỹ thuật hiện đại, những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng nâng cao của nhân viên đã tạo ra cách tiếp cận mới về con người trong các tổ chức, doanh nghiệp. Vấn đề con người trong các tổ chức, doanh nghiệp được đề cập đến như là vấn đề nhân sự. Với cách đề cập trên, nhân sự được hiểu là những con người cụ thể đảm nhận một chức vụ hay một vị trí công tác nào đó trong cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm thể lực và trí lực.
Thể lực chỉ sức khoẻ của con người, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, mức sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, phụ thuộc vào tuôi tác, giới tính, thời gian lao động. Còn trí lực chỉ sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng, tài năng cũng như quan điểm, nhân cách. của từng con người.” [27] “Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao déng” [3] Từ những vấn đề trên, có thể khái niệm nhân lực như sau: Niân lực hiểu một cách tổng quát là sức người.
Cụ thể hơn, nhân lực là nguôn lực của mỗi con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người. sức lực đó phát triển đến độ cân thiết, con người tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị, văn hoá, xã hội. Nguén nhân lực Cùng với khái niệm đó, nguồn lực con người trong tổ chức được xem là nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được hiều là toàn bộ khả năng về sức lực và trí tuệ của mọi cá nhân trong tô chức bất kể vai trò của họ là gì. Theo khái niệm này, nguồn nhân lực chỉ mới tồn tại ở khía cạnh con người hiện hữu, chưa toát lên được vai trò và sự thích ứng của họ trong một tổ chức, từ đó chưa làm cho người lao động đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức. “Nguồn nhân lực của một tô chức bao gồm tắt cả những người lao động. làm việc trong tổ chức đó.” [14] “Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tông thể các nhân tố về thê chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người gồm; thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực vừa là phương tiện, vừa là mục đích, nguồn nhân lực tương tác với các nguồn lực khác và đó là con người có cá tính, năng lực riêng.” [29] “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tông thể các tiềm năng lao động của một nước, hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.” [5] “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.” [9] “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội.” [9] Các quan niệm trước đây đều cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của một quốc gia hay một tổ chức là khả năng tài chính mạnh, kỹ thuật công nghệ phát triển; ngày nay xã hội nhìn nhận các quan điểm trên đã lỗi thời và đã nhận thức được rằng tính năng động, sáng tạo, tự quyết định và bản thân con người mới là nguồn lực quan trọng và không thể thay thế.