phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng của tổ chức tín dụng. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Quảng Ngãi. Tong quan tài liệu nghiên cứu Chính vì sự cẩn thiết của vấn đề quản trị rủi ro tín dụng mà đã có rất nhiều các nghiên cứu tại các tổ chức tín dụng khác nhau, có thẻ kể đến một tài liệu, nghiên cứu điển hình như: Cudn sich “Risk management” cia tée giả là cuốn điển hình về quản trị rủi ro.
Hoàn toàn được tái cấu trúc với những tài thảo luận mới về những sản phẩm tài chính mới, phái sinh, Basel II, mô hình tín dụng dựa trên mô hình cường độ thời gian, thực thi những hệ thống rủi ro và mô hình cường độ của vỡ nợ, nó còn bao gồm một mục vẻ dưới chuẩn để nói về những cơ chế khủng hoảng và những điều kiện tài chính khó khăn gần đây. Cuốn sách cho rằng những cách thức và kỹ thuật quản lý rủi ro vẫn rất quan trọng nếu được thực thi một cách đúng đắn với sự điều hành phù hợp. Xây dựng trên thành công của tác phẩm kinh điễn này, phiên bản ba là một tài liệu không thể thiếu cho những sinh viên MBA, những người hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng và dich vu tài chính, những người điều hành ngân hàng và những nhân viên kiểm toán. Cuốn sách đã giới thiệu quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực.
Céng trinh “Risk Management Implications of Mutual Fund Investment Objective Classifications” cua tic gia Larry J. Prather năm 2012, tập trung vào nghiên cứu quản trị rủi ro đối với Quỹ tương hỗ. Tác giả khẳng định đầu tư luôn đi kèm với rủi ro và rủi ro ở từng nhóm đầu tư là khác nhau. Quỹ này hoạt động trong lĩnh vực đầu tư vào cỗ phiếu và trái phiếu.
Trong quá trình hoạt động, người ta nhận thấy có sự khác biệt về nguy cơ rủi ro giữa Quỹ tính phí và Quỹ không tính phí (Load and No-Load Funds). Sự khác nhau về nguy cơ rủi ro dẫn đến sự khác biệt trong kiểm soát đối với các quỹ cũng như hoạt động quản trị rủi ro danh mục đầu tư đối với hai loại quỹ này. Về mặt lý thuyết, rủi ro và lợi nhuận là hai yếu tố song hành, và sự cân bằng giữa hai yếu tố này rất quan trọng trong quản lý danh mục đầu tư. Thuyết Hữu dụng (Utility Theory) chi ra rằng việc tính toán, cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận rất quan trọng ở các Quỹ tương hổ.
Điều này giúp tối đa hóa sự hai lòng của các nhà đầu tư với nguồn vốn đầu tư. Thông thường theo mức độ rủi ro, nhà đầu tư được chia thành 3 nhóm: Không thích rủi ro (Risk Averse) chỉ đặc tính của một nhà đầu tư không ưa thích rủi ro và không chấp nhận nhiều rủi ro nếu không nhận thêm lợi ích bổ sung; Không quan tâm rủi ro (Risk Neutral - Neutral) - chỉ đặc tính của một nhà đầu tư trung lập với rủi ro; Thích rủi ro (Risk taker) - thể hiện sự sẵn sảng chấp nhận rủi ro với kỳ vọng là sự biến động của rủi ro theo chiều hướng có lợi. Trong chương 5 của cuốn sách “Quản frị Ngân hàng thương mại ” (2004), tác giả Peter S.Rose đã nêu ra một số loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thu nhập, rủi ro phá sản. Đây là một trong những tài liệu mà học viên đã tham khảo, kết hợp với một số tài liệu khác đẻ tiếp cận những nội dung về khái niệm và một số chỉ số để đo lường rủi ro tín dụng.
Tác giả Dương Hữu Hạnh (2013) với cuốn sách “Quán rrị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn câu ” đã nêu ra một số vấn đề cơ bản về rủi ro tin dụng và một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro. Tuy nhiên, tài liệu này chủ yếu nêu ra các trích dẫn của một số công trình nghiên cứu trước đó như /isk: Management in Banking (2010) của Joel Bessis và các bài báo về lĩnh vực tài chính ngân hàng mà chưa chú trọng đi sâu phân tích các vấn đề. * Các luận văn, luận án : ~ Trương Thị Hồng (2017), Quản trị rủi ro tín dụng tại Quỹ Đâu tư phát triển tỉnh Khánh Hòa, Đại học Nha Trang. Trong đề tài, tác giả đã hệ thống các lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, chỉ ra được một số hạn chế trong hoạt động cho vay và đưa ra một số giải pháp phù hợp đối với hoạt động quản trị rủi ro tin dung tai Quy DTPT tinh Khánh Hòa, tuy nhiên tác giả chưa đi vào phân tích cụ thể đối tượng khách hàng doanh nghiệp.
~ Nguyễn Xuân Văn (2012), Hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng. đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chỉ nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trên cơ sở áp dụng Nguyên tắc Basel trong xây dựng mô hình quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp. Từ những phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp.
tại Vietcombank, đề tài đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị cần thi hoàn thiện công tác quản trị rủi ro. Từ cơ sở lý luận, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng 'TMCP Công Thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng, tác giả đã đưa ra được những giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng. Đây là cơ sở để học. viên tham khảo, từ đó xây dựng nên cơ sở lý thuyết và các giải pháp trọng tâm cho luận văn của mình.
~ Huỳnh Kim Trí (2007), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Đà Nẵng. Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Trong phần lý luận của mình, tác giả đã đưa ra được những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng; những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, luận văn chưa nêu được rõ rằng vẻ công tác nhận dang, do lường, kiểm soát, tài trợ rủi ro tín dụng để có biện pháp phòng ngừa rủi ro tiểm ấn một cách nhanh chóng nhất.
Trong tài liệu này, tác giả Đỗ Thùy Dung đã nêu ra một số phương pháp để đo lường rủi ro tín dụng, ưu nhược điểm của từng phương pháp. Luận văn đã kế thừa các cách tiếp cận lượng hóa này nhằm áp dụng và giải quyết một vấn đề còn tồn tại trong công tác đo lường rủi ro tín dụng tại chỉ nhánh. Từ những á trị mang tính tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu trên, kết hợp với tình hình thực tế của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Quảng Ngãi hiện nay là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả thực hiện đề tải “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Quỹ Đầu tư phát triển tinh Quang Ngai”. Những công trình nghiên cứu trên đều mang tính cấp thiết và cần thiết 10 cho công tác quản trị rủi ro đối với mỗi ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Qua đó, tác giả kế thừa bổ sung phần cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng lớn và các giải pháp hoàn thiện công tác QTRRTD. Đây là các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo rất tốt về lý luận và thực tiễn. Ở các công trình khoa học trên, vấn đề QTRRTD đã được nhiều tác giả đề cập, mỗi đề tài có một cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu khác nhau tùy vào tình hình thực tế và đặc điểm của từng ngân hàng, địa phương. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về việc Quản trị rủi ro tín dụng đầu tư tại Quỹ Đầu tư phát triển Quảng Ngãi.
Vì thé đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Quỹ Đầu tr phát triển tỉnh Quảng Ngãi ” mang tính cấp thiết, độc lập. "1 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI RUI RO TIN DUNG TRON CHO VAY KHACH HANG CUA TO CHUC TiN DUNG 1. TIN DUNG CUA QUY DAU TƯ PHÁT TRIEN 1. Khái niệm đầu tư phát triển Đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh doanh nhằm thu lại một lượng giá trị lớn hơn sau một khoảng thời gian xác định.
Đầu tư có hai đặc trưng cơ bản là tính sinh lợi và thời gian kéo dài. “Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư nếu việc sử dụng tiễn vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu. Đặc trưng thứ hai của đầu tư là chỉ có thể thu hồi giá trị ứng ra sau thời gian khá dài nên thường gánh chịu nhiều rủi ro.
Đầu tư phát triển là loại đầu tư nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh và năng lực hoạt động của xã hội ĐTPT là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, cải thiện chất lượng sống của người dân trong xã hội. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực. mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ [9].
Tín dụng đầu tư phát triển Tín dụng ĐTPT là tín dụng do Nhà nước thực hiện để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích.