phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau: Chương l: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực hành chính. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực hành chính huyện Hòa Vang. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực hành chính huyện Hòa Vang. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học, các nghiên cứu, hội thảo, bài viết về phát triển nguồn nhân lực, đáng chú ý là một số công trình sau: - Hội nghị Quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011- 2020 khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ được tổ chức vào năm 2010 do Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì.
Hội nghị đã đánh giá được thực trạng nguồn nhân lực của các tỉnh Nam Trung bộ, đồng thời đề ra các giải pháp quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực ở khu vực này trong thời gian đến. - Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã xây dựng Đề tài “Giải pháp quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của thành phố Đà Nẵng đến năm 2015”, trong đó xác định vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; hệ thống hóa thể chế quản lý và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của thành phố; dự báo các yêu cầu đối với công tác quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức từ năm 201 I- 2015; đề xuất các giải pháp phục vụ cho việc hoạch định các chính sách, thực hiện các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức của thành phố. ~ Đề tài khoa học: “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” do PGS. TS Võ Xuân Tiến (Đại học Đà Nẵng) Chủ nhiệm đề a làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong khu vực hành chính công.
Phân tích thực trạng việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC đang hoạt động trong khu vực hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) tại Đà Nẵng mà chủ yếu là cán bộ chủ chốt. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp có tính khoa học, khả thi để áp dụng vào thực tế nhằm đầy mạnh việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ trong khu vực hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) tại Đà Nẵng thời gian tới. - Đề tài: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp. hóa, hiện đại hóa” của GS.TS Phạm Minh Hạc (2001), đã làm rõ những khái niệm về nguồn nhân lực và quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá tác động nguồn nhân lực nước ta trong quá trình CNH - HĐH tác giả đã đưa ra giải pháp để phát triển nguồn nhân lực này thúc đây tiến trình CNH - HĐH ở Việt Nam. ~ Đề tài: “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho khu vực hành. chính công của tỉnh Bình Định”, tác giả: Trần Quang Triết, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng (2011). Luận văn này tác giả đã đánh giá được 1 phần về thực trạng nguồn nhân lực hành chính của tỉnh Bình Định cũng.
như đề xuất các giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực hành chính, trong. đó có nhân lực hành chính CNTT của tỉnh Bình Định trong thời gian đến. - Luận văn Thạc sĩ “Phát triển nguồn nhân lực quản lý hành chính quận Liên Chiều, thành phố Đà Đằng” của tác giả Phan Thịnh (2012). Tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển nguồn nhân lực hành chính, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực hành chính quận Liên Chiểu; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực hành chính trên địa bàn trong thời gian tới.
~ Luận văn Thạc sĩ “Phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp phường tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thanh Thy (2012) đã làm rõ nguyên nhân làm cho chất lượng nguồn nhân lực hành chính cấp phường chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại, chưa đáp ứng được yêu cầu trong quá trình CNH - HĐH đất nước và quá trình hội nhập kinh tế. - Bài báo “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Thành phó Đà Nẵng” của tác giả Đặng Công Ngữ, Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng. Việc tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất khó khăn bởi theo tác giả thì để có được một đội ngũ “biết việc” thì cần phải có cả một quá trình công phu, kiên trì từ chủ quan, nỗ lực của CBCC và của. Một trong những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực hành chính mà tác giả đưa ra đó là quản lý đầu vào.
Đồng thời bài viết cũng đề cập tới những giải pháp làm cho bộ máy chính quyền hiện có trở nên thực sự năng động, hoạt động có hiệu quả bằng các việc làm thiết thực như hình thành các tổ chức chuyên nghành, chuyên nghiệp đẻ xử lý các van dé trong tâm, trọng điểm. Tại huyện Hòa Vang cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về phát triển nguồn nhân lực hành chính huyện để hệ thống lý luận và thực trạng dưới góc độ kinh tế phát triển. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC HANH CHiNH 1. KHAI QUAT VE NGUON NHAN LUC HANH CHiNH VA PHAT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH 1.
Khái niệm nguồn nhân lực hành chính a. Nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực; nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội. “Thẻ lực chỉ sức khỏe của thân thể; nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng. sức khỏe của từng con người, mức sóng, thu nhập, chế độ ăn uốn, "5] “Trí lực là chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.
của từng con người” [Š] Thuật ngữ nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, phản ánh sự đánh giá lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người cuối cùng cũng trở thành nguồn nhân lực. Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau: Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực. tế hoặc tiềm năng đề phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng.
Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là nguồn lao động của một quốc gia hay lãnh thổ phản ánh khả năng lao động của xã hội được biểu hiện qua hai mặt: về số lượng đó là bao gồm những người trong độ tuôi à ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động trong các ngành kinh tế và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu về việc làm nhưng còn đang đi học hay thất nghiệp.; về chất lượng, là tập hợp về trình độ thể chất, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất ở người lao động “Theo giáo trình kinh tế lao động: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển xã hội. Pham Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”.
[6] Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng. các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là: ~ Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức. như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
~ Chất lượng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như. trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẳm mỹ,. của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thẻ lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
- Cơ cấu nguồn nhân lực, đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,. Từ những vấn để trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào. quá trình tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thẻ hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân só, nhất là số lượng và chất lượng con người cơ sở đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành bại của tổ chức. Bắt kẻ một tô chức nào dù mạnh hay yếu thì yếu tố con người vẫn là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất.