Chương 1: Những van đề lý luận về hiệu quả kinh doanh của các Công ty Cô phan trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của Công ty Cô phan may Sông Hồng. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cô phần may Sông Hồng. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE HIEU QUA KINH DOANH CUA CAC CONG TY CO PHAN TRONG NEN KINH TE THI TRUONG 1.
HIEU QUA KINH DOANH VA PHAN LOAI HIEU QUA KINH DOANH 1. Khái niệm hiệu qua Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện mục tiêu hoạt động của chủ thé và chi phi ma chu thé bỏ ra dé có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Ta có công thức chung của hiệu quả là: (1) Hiệu quả tuyệt đối: E = K - C (2) Hiệu quả tương đối: E = K/C Trong đó: E: là hiệu quả K: Là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu, được đo băng các đơn vị khác nhau C: Là chi phí bỏ ra, được do bằng các đơn vị khác nhau [mục 2] 1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiện vẫn còn tổn tại các ý kiến khác nhau về phạm trù hiệu quả kinh doanh (HQKD) của doanh nghiệp. Quan niệm thứ nhất cho rằng HOKD là mức độ tiết kiệm chi phí và tăng kết quả kinh tế [mục 4].
Theo tác giả, quan niệm này có cách nhìn nhận HQKD đúng về mặt bản chất nhưng không phải là một khái niệm hoàn chỉnh, nó chủ yếu nhìn từ góc độ chi phi. Quan niệm thứ hai, HOKD là một phạm trù kinh tế phan ảnh trình độ sử dung các nguon lực của doanh nghiệp dé đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chỉ phí nhỏ nhất [mục 7]. Quan niệm thứ ba, HOKD là chỉ tiêu xác định bằng dai lượng so sánh giữa kết quả với chỉ phí [mục 2]. Quan niệm này đã phản ánh được mỗi quan hệ bản chat của HQKD.
Tuy nhiên sự so sánh này là chưa đủ vì nó mới chỉ phản ánh sự đo lường, mà HQKD thì phải vừa phản ánh được mặt định tính, phải vừa thể hiện được mặt định lượng, không những xác định được công thức thể hiện, mà còn ứng dụng được vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, thể hiện được sức sống đem lại ý nghĩa trong quản lý. Hai mặt định tính và định lượng này phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quan niệm thứ tư, HOKD là hiệu quả tai chính của doanh nghiệp [mục 10]. Quan niệm này coi HQKD là hiệu qua tài chính của doanh nghiệp tức là đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra dé có được lợi ích kinh tế đó.
Quan niệm này đúng với những nhà Đầu tư khi xét hiệu quả của các dự án Đầu tư (tương ứng với khái niệm đánh giá tài chính, đánh giá kinh tế dự án), nhưng không đúng với các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh, bởi vì hiệu quả tài chính chỉ liên quan đến việc thu chỉ có liên quan trực tiếp. Các nhà Đầu tư trong chi phí khai thác hang năm không xét tới yêu tô khấu hao tài sản vì giá trị của nó đã được thé hiện ở chi phí Dau tư, còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì khấu hao là một yếu tố chi phi. Từ việc phân tích các quan niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong phạm vi luận văn này "Hiệu quả kinh doanh cua doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp”. Phân loại hiệu quả Phân loại hiệu quả kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết, nó cho phép các doanh nghiệp xem xét và đánh giá kết quả mà mình đạt được và là cơ sở dé xây dựng chiến lược, kế hoạch và các chính sách của doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa khác nhau. Việc phân loại hiệu quả theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận và chất lượng thực hiện những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tông sản phâm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không những cần phải tính toán và đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà còn phải đạt hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào hiệu quả cá biệt, tức là hiệu quả của nền kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả của từng doanh nghiệp. Đồng thời thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động đến hiệu quả cá biệt. Cơ chế, chính sách của Nhà nước mà đúng dan sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt và ngược lại nó sẽ kìm hãm hiệu quả cá biệt của các doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh tông hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận Hiệu quả kinh doanh tổng hợp thê hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh bộ phận lại thé hiện mối tương quan giữa kết qua thu được với chi phi từng yếu tô cần thiết để thực hiện nhiệm vu Ấy (lao động, thiết bị, nguyên vật liệu. Việc tính toán chỉ tiêu kinh doanh tổng hợp cho thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp. Việc tính toán chỉ tiêu kinh doanh bộ phận cho thấy sự tác động của các yếu tố nội bộ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả kinh té chung.
Về nguyên tắc, hiệu quả kinh doanh tổng hợp phụ thuộc vào hiệu qua kinh doanh bộ phận. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định và phân tích hiệu quả nhằm hai mục đích: Một là, phân tích đánh giá trình độ quản ly và sử dụng các loại chi phí trong kinh doanh. Hai là, phân tích luận chứng về kinh tế - xã hội các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Hiệu quả tuyệt đối được tính toán cho từng phương án bằng cách xác định mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra khi thực hiện mục tiêu.
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thé hiện chi phí hoặc kết quả của các phương án với nhau. Cách phân loại này được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong việc thâm định các dự án mới Đầu tư. Với các doanh nghiệp đi vào hoạt động thì chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối với hai mốc thời gian khác nhau. CÁC NGUYÊN TAC VÀ CHÍ TIEU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ KINH DOANH 1.
Nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Đảm bảo sự thống nhất biện chứng về mặt thời gian và không gian Sự toản diện của hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn không được làm giảm hiệu quả khi xét trong dài hạn, hoặc hiệu quả của chu kỳ sản xuất trước không được làm hạ thấp hiệu quả của chu kỳ sau. Trong thực tế không ít trường hợp chỉ thấy lợi ích trước mắt, thiểu sự xem xét lợi ích toàn diện va lâu dài. Vấn đề này tồn tại ở khá nhiều doanh nghiệp và trong đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp.
Nghiên cứu và xem xét hiệu quả; nâng cao hiệu quả kinh doanh về mặt thời gian là việc không thể không xem xét của các nhà quản trị doanh nghiệp để doanh nghiệp tôn tại và phát triển. Bên cạnh đó, có hiệu quả kinh doanh hay không còn phụ thuộc vào chỗ hiệu quả của hoạt động cụ thể nào đó có ảnh hưởng tăng hay giảm như thế nào đối với cả hệ thống mà nó có liên quan, tức là giữa ngành kinh tế này với ngành kinh tế khác, giữa từng bộ phận với toàn bộ hệ thống, và đặc trưng là đối với doanh nghiệp Nhà nước thì có mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh và việc thực hiện các mục tiêu khác ngoài mục tiêu kinh tế. Như vậy, với nỗ lực tính từ giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật nào đó dự định áp dụng vào thực tiễn đều phải được đặt xem xét toàn diện. Khi hiệu quả ấy không làm ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả chung thì nó mới được coi là thực sự có hiệu quả.
Xét trên cả hai mặt định lượng và định tính Về định lượng, hiệu quả kinh tế phải được thé hiện trong mỗi tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng thu, giảm chi. Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất kinh doanh mà thực chất là hao phí lao động (lao động sống và lao động vật hóa) dé tạo ra một đơn vị sản phẩm. Về định tính, trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, khi đánh giá hiệu quả của hoạt động đó không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được mà còn đánh giá chất lượng của kết quả ấy. Có như vậy thì hiệu quả kinh doanh mới được đánh giả toàn diện.
Kết quả đạt được trong sản xuất mới đảm bảo được yêu cầu tiêu dùng của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Nhưng kết quả tạo ra ở mức nào, với giá trị nào, đó chính là vẫn đề cần xem xét, vì nó là chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả. Vì thế đánh giá hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả đó, tức là đánh giá người sản xuất tạo ra kết quả bằng phương tiện gì, bằng cách nào và chỉ phí là bao nhiêu.