Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nguồn nhân lực - Chương 2: Thực trạng về công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Điện Lực Bình Định trong thời gian qua; - Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực. tại Công ty Điện Lực Bình Định trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các khái niệm giáo dục, đào tạo và phát triển đều đề cập đến một quá trình, quá trình này cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân. Điều này cũng có nghĩa là giáo dục, đảo tạo, phát triển được áp dụng để làm thay đổi việc nhân viên biết gì, làm như thé nào, và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp xung quanh.
Dao tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách. Nói cách khác, đào tạo là tiến trình với nỗ lực cung cấp cho nhân viên những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu của tổ chức; đào tạo được thiết kế để giúp đỡ, hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức. Đào tạo nguồn nhân lực được coi là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức và là yếu tố quyết định cho sự phát triển của tô chức. Chất lượng nhân viên trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp.
Thực tế đã chứng minh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có thê mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm của Mỹ và Nhật đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tại các nước phát triển có rất nhiều công trình nghiên cứu vẻ đề tài này: Theo Carrel và cộng sự cho rằng có hai loại đào tạo: đảo tạo chung và đào tạo chuyên. Khái niệm đảo tạo được sử dụng trong trường hợp các nhân viên học tập.
lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật. Nhà nghiên cứu Wayne không tán thành quan điểm coi đào tạo được dành cho những nhân viên cấp dưới, còn phát trié ho các nhân viên cấp cao và sự khác biệt cơ bản giữa đào. tạo và phát triển thể hiện ở đào tạo chú trọng vào các kỹ năng tay chân, còn phát triển chú trọng các kỹ năng giao tiếp, ra quyết định. Khái niệm đào tạo và phát triển sẽ được dùng đề thay đổi cho nhau và đều bao gồm các chương trình được hoạch định nhằm hoàn thiện việc thực hiện công việc ở các cí nhân, nhóm và doanh nghiệp.
Còn theo Cenzo và Robbins, điểm tương đồng giữa đào tạo và phát triển là đều có các phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành; tuy nhiên, đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại, còn phất triển nhân viên nhằm chú trọng lên các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp. Với thể loại báo, tạp chí đã có nhiều bài viết về đế tài đào tạo nguồn nhân lực như: bài viết “Mới ấn đề về đào tạo và phát triển nguôn nhân lực” của PGS. Võ Xuân Tiến đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng số 5(40)-2010 đã đưa ra khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực, xem đào tạo nguồn nhân lực là sự cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Vinh — Dai hoc Kinh tế Tp.
Hồ Chí Minh về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - yếu tố quyết định trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập - s 3(13) - 2012 đã phân tích và khái quát khía cạnh giá trị vô hạn của nguồn nhân lực cũng như khả năng khai thác tiếm năng thới kỳ dân số vàng của Việt Nam. Tác giả Nguyễn Văn Chiều. — Dai hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có viết bài “Triết lý đầu tư cho dao tao nhân lực của doanh nghiệp” đăng trên tạp chí Nhà quản lý đã tổng. kết kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp thành công nhờ chính sách đào tạo và huấn luyện nhân viên và đã chỉ ra 7 triết lý có ý nghĩa trong đầu tư cho dao tạo nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp hiện nay.
Công tác đào tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp có một đội ngũ lao động lành nghề, năng động, sáng tạo, ứng phó kịp thời với những biến động trong bối cảnh kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Mục đích của công tác đào tạo là bỗ sung thêm kiến thức, kỹ năng cho người lao động, nâng cao trình độ chuyên môn, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng được các yêu cầu công vi Yêu cầu dé phat triển nguồn nhân lực của Công ty Điện lực Bình Dinh trong thời gian tới sẽ có những thay đổi để phù hợp với cơ cấu quản lý mới. Hai yếu tố mà Công ty luôn chú trọng trong công tác phát triển nguồn nhân lực đó là: đảm bảo cho người lao động có việc làm, có mức thu nhập ổn định và yếu tố thứ hai có tính chiến lược đó là chú trọng công tác đào tạo, phát triển nhân lực có trình độ cao đáp ứng được sự phát triển của khoa học công nghệ và yêu cầu phát triển của Tập đoàn nói riêng và của Ngành nói chung dưới nhiều hình thức khác nhau: ngắn hạn, dài hạn, trong nước, nước ngoài, tái dao tao, đào tạo nâng cao. Đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu cụ thể và đi ề hoàn thiện đảo tạo nguồn nhân lực tại Công ty Điện lực Bình Đề tài mong muốn cung cấp một cái nhìn tông quan về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có đặc thù chuyên ngành như Công ty Điện lực Bình Định, để từ đó hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nguồn nhân lực, trên cơ sở thực tế đánh giá thực trạng tìm ra được những điểm chưa phù hợp, những bất cập còn tồn tại và đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản thúc đây đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp.
CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE CONG TAC DAO TAO NGUON NHAN LUC TRONG CAC DOANH NGHIEP 1. TONG QUAN VE DAO TAO NGUON NHAN LUC 1. Một số khái niệm. Nhân lực Nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất.[10] Nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thể lực và trí lực được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất.
Thể lực chỉ sức khoẻ của con người, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực thể hiện là khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết hay khả năng làm việc bằng trí óc của con người, nó phụ thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, quá trình rèn luyện, học tập cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.của từng con người.[3] Nhân lực cũng có thể hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Sức mạnh đó phải được kết hợp giữa người lao động và các nhóm yếu tố: sức khoẻ, trình độ, tâm lý và khả năng có gắng.
Nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhu vậy, nhân lực là bao gồm thể lực và trí lực của con người, nó phản ánh sức người và khả năng lao động của con người. Nguôn nhân lực Tuỳ theo mục tiêu cụ thể và cách tiếp cận khác nhau mà người ta có những quan niệm và cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực (NNL). Một số quan niệm về nguồn nhân lực được nêu ra như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Theo nghĩa rộng nguồn nhân lực gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bắt kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến NNL là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh.
Khác với quan niệm trên, khi xem xét vấn đề ở trạng thái động thì nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực được xác định như tiềm năng của một con người, tiềm năng đó bao hàm tổng hoà năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng yêu cầu do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực vừa là phương tiện vừa là mục đích, nguồn nhân lực tương tác với các nguồn lực khác và đó là con người có cá tính, năng lực riêng. Nguồn nhân lực là tổng thể m năng con người của một quốc gia hay một địa phương được chuẩn bị ở mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của một đất nước hay một địa phương cụ thể trong một thời kỳ xác định.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.