Chương 1: Một số vấn đề lý luận vẻ đánh giá thành tích nhân viên. Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá thành tích nhân viên tại UBND thành phố Quy Nhơn. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá thành tích nhân viên tại UBND thành phố Quy Nhơn trong thời gian đến. MOT SO VAN DE LY LUAN VE DANH GIÁ THÀNH TÍCH NHÂN VIÊN 1.
TÔNG QUAN VE ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH NHÂN VIÊN 1. Một số khái niệm. Khái niệm về nhân viên (CBCC) Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ Công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bô” và “công chức ”.
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCH trước đây và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước đến nay chưa có văn bản nào qui định chính thức. Thuật ngữ “công chức ” thường được hiểu một cách khái quát là những người được nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước theo các qui định của pháp luật. Tuy nhiên phạm vi xác định công chức lại khác nhau đối với mỗi quốc gia khác nhau phụ thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và của lịch sử, văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng về cán bộ, công chức, viên chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác như: Luật Tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức HĐND, UBND; Luật bình đẳng giới; Luật giáo dục. đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” nhưng. chưa có một văn bản nao giải thích các thuật ngữ này.
Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điều đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thê điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội. Với điểm đặc thù này, việc nghiên cứu để xác định rõ cán bộ, công chức một cách triệt dé rit khó và phức tạp. đời sống xã hội, từ lâu thuật ngữ "cán bộ” được sử dụng rộng rãi nhưng không theo một qui định nào.
“Cán bộ” không chỉ để gọi những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội mà còn được sử dụng cả trong các hoạt động sự nghiệp như “cán bộ y tế”, “án bộ coi thi”, “cán bộ dân phố”. Tương tự cụm từ “công chức” cũng vậy, có khi người ta sử dụng luôn cả cụm từ “cán bộ, công chức” để chỉ chung những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội. Vì vậy việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cũng như đối với công chức hiện nay chưa. thể hiện được những điểm khác nhau giữa các nhóm, chưa gắn với đặc điểm và tính chất hoạt động khác nhau của cán bộ, công chức.
Vấn đề làm rõ thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” được coi la van dé co ban, quan trọng, là một nhu cầu cần thiết xuất phát từ thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiện nay. Điều này đã được Luật cán bộ, công chức năm 2008 giải quyết tương đối triệt để và khoa học, phù hợp với lịch sử hình thành đội ngũ cán bộ, công chức; phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn quản lý của Việt Nam. Từ đây chúng ta có căn cứ và cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện và đổi mới co chế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức. của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Tóm lại, theo Điều 4 - Luật cán bộ, công chức ban hành ngày 13/11/2008 và Nghị định số 06/2010/NĐ.CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ thì cán bộ, công chức được qui định như sau: ~ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bằu cử, phê chuẩn, bỗ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ~ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không. phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bỗ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Việc phân định cán bộ và công chức là căn cứ để qui định cơ chế quản lý phù hợp với cán bộ ở trung ương, cắp tỉnh, cắp huyện; công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã, công chức cấp xã. Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung mà cán bộ và công chức đều có. Đối với cán bộ do sự điều chinh của cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm nên cán bộ còn phải 10 chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thắm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; điều này thể hiện trách nhiệm chính trị của cán bộ. Đối với công chức, do sự điều chỉnh của cơ chế tuyển dụng, bỗ nhiệm công chưc còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; điều này thể hiện trách nhiệm hành chính của công chức.
Việc qui định đánh giá cán bộ cũng có những nội dung khác với đánh giá công chức. Đánh giá cán bộ thực hiện theo 5 nội dung, trong đó có những. nội dung khác với đánh giá công chức là: cán bộ phải đánh giá năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm trong công, tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Còn đánh giá công chức gồm 6 nội dung đánh giá.
Điểm khác với đánh giá cán bộ là việc đánh giá công chức sắn với năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tỉnh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, thái độ phục vụ nhân dân. Phân loại nhân viên (CBCC) Phân loại nhân viên đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của tổ chức. Nhân viên có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục đích phân loại; có một số cách phân loại cơ bản như sau ~ Căn cứ vào ngạch được bồ nhiệm, nhân viên (công chức) được phân 4 loại như sau + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; + Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; + Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; 1 + Loại D gồm những người được bỏ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. ~ Căn cứ vào vị trí công tác, nhân viên (CC) được phân loại như sau: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. ~ Phân loại theo hệ thống cơ cấu tổ chức gôm. + Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức Trung ương. + Công chức làm việc ở cơ quan, tô chức cấp tỉnh.
+ Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp huyện. + Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp xã. ~ Ngoài ra, công chức có thể phân loại theo trình độ đảo tạo (sau đại học, đại học, trung cấp.) hoặc phân loại theo ngành, lĩnh vực (ngành hành chính, ngành kế toán; ngành kiểm toán; ngành xây dựng; ngành thuế. Trong mỗi một ngành chuyên môn có một hoặc một số ngành từ cao đến thấp, thể hiện phẩm chất, trình độ và năng lực chuyên môn.
Khái niệm về đánh giá thành tích, đánh giá công chức e. Đánh giá thành tích ‘Thanh tích phản ánh sự thành công của một tổ chức, vì thế có thể là đặc điểm rõ rằng nhất là cần đo lường. Đánh giá thành tích nhân viên là sự đo lường mức độ thành tích đóng góp của nhân viên, làm cơ sở cho các hoạt động nhân sự khác như: để bạt, khen thưởng, sa thải, kỷ luật. Chúng ta có thể hiểu việc đánh giá thành tích hay kết quả thực hiện là quá trình đo lường thành tích của nhân viên.
Thành tích của nhân viên là mức độ hoàn thành của yêu cầu công việc. Theo khái niệm tại tác phẩm “Quán ri nguồn nhân lực” của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, 2006 thì 'Đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn ”. 12 Ở đây, chúng ta có thể sử dụng khái niệm đánh giá thành tích trong tác phẩm Quản trị nguồn nhân lực của tác giả Nguyễn Hữu Thân, 2004.