CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương m: 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hang Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính đa dạng, phức tạp, vô hình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nên khó khăn.
Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới mỗi quốc gia đều có những cách hiểu về dịch vụ khác nhau. Chính vì vậy trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155 phân ngành. Còn trong từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: dịch vụ là các hoạt đông phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Trên thé giới vấn đề dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.
của ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng. Ở Việt Nam, trong Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 cụm từ “dịch vụ ngân hàng” cũng đề cập tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 nhưng không, có định nghĩa cụ thể “Khoản 1. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Một số điều khác của Luật này có nhắc tới các loại hình dịch vụ ngân hàng như dịch vụ ngân quỹ. Ngay cả trong dự thảo Luật TCTD (điều 4, khoản 11) và dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (điều 8, khoản 1) đều quy định “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một trong các nghiệp vụ sau đây dưới mọi hình thức: (a) Nhận tiền gửi; (b) Cấp tín dụng: (c) Cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo định nghĩa của WTO: Dịch vụ tải chính là bắt cứ dịch vụ nảo có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác.
Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính. Như vậy ở Việt Nam, việc phân biệt rõ ràng thé nao là dịch vụ ngân hàng, vẫn chưa có một khái niệm chính thức. Có nhiều ý kiến cho rằng tắt cả các hoạt động nghiệp vụ của NHTM (hoạt động tín dụng, tiền tệ, ngoại hồi. coi là hoạt động dịch vụ.
Quan điểm này được hình thành trên quan điểm của thể giới khi dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ hoạt động, tiễn tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. của ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng Nhưng cũng có ý kiến cho rằng hoạt động dịch vụ ngân hàng không th phạm vỉ hoạt động tín dụng (như huy động tiền gửi và cho vay) hay nói cách khác là những hoạt động phi tín dụng có khả năng sinh lời cho ngânhàng, được gọi là hoạt động dịch vụ. Theo quan điểm này cạnh tranh về dịch vụ giữa các ngân hàng không xét đến những hoạt động truyền thống như: nhận tiền gửi, cho vay, việc mà bất cứ ngân hàng nảo cũng có thể làm được. Khi nói đến dịch vụ người ta sẽ nghĩ ngay đến khả năng cung ứng những sản 10 phẩm dịch vụ thuần túy như thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ ngân hàng qua mạng.
Đặc điểm của. h vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng cũng mang những đặc trưng cơ bản sau: - Tỉnh vô hình: Đây là đặc điểm cơ ban dé phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác. Cũng giống như các dich vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng không có hình thái vat chat cụ thể.
Khách hàng tiếp nhận và tiêu dùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông tin và kết quả là nhu cầu được đáp ứng. Cũng có một điểm đặc biệt là khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Dịch vụ ngân hàng cũng có điểm khác hàng hóa vật chất ở chỗ không có sản phẩm dở dang, không lưu trữ được. ~ Tính đằng thời: Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm này là do việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ luôn xây ra đồng thời, không tách rời nhau.
Dịch vụ ngân hàng chỉ được cung ứng khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đáp ứng một số điều kiện nhất định của nhà cung cấp là ngân hàng. Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc xác định giá cả dịch vụ nhằm đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Các ngân hàng cảng dày công nghiên cứu để đáp ứng ngày cảng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì sẽ càng thu hẹp được khoảng cách giữa việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ ngân hàng. Kết quả là ngân hàng sẽ ngày càng có nhiều khách hàng hơn và kèm theo là thu nhập của ngân hàng tăng lên.
- Tỉnh không ôn định và khó xác định khối lượng: Là một loại hình dich vụ tải chính, dịch vụ ngân hàng do đó sẽ chịu rất nhiều tác động từ các yếu tố của môi trường kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu hướng hội nhập, thì sự biến động của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh càng lớn và rất khó có thể lường trước. Chất lượng của các dịch vụ ngân hàng i cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả về yếu tố khách quan như trình độ thụ hưởng dịch vụ của khách hàng, thói quen, tập quán.đến các yếu tố chủ quan như uy tín, vị thế của ngân hàng cung cấp dịch vụ, trình độ của cán bộ, chính.Do vậy có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại dich vụ có tính không ôn định và khó xác định được khói lượng chính xác. Vai trò của dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Dich vụ ngân hàng là loại hình dich vụ chất lượng cao, đòi hỏi một trình độ hiểu biết nhất định của nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng. Phát triển dịch vụ ngân hàng có vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng, đối với khách hàng và đối với nền kinh tế. Vai trò của dich vụ ngân hàng được thể hiện cụ thể như sau: 1. Béi voi nền kinh tế Đảm bảo cho các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra một cách trôi chảy, nhanh chóng và thuận tiện.
Điều đó thể hiện rõ qua các Dịch vụ ngân hàng như: dich vụ huy động vốn góp phản tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; dịch vụ cấp tin dụng giúp đáp ứng nhanh chóng, kip thời nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế dịch vụ thanh toán, nhất là các dịch vụ thanh toán không, dùng tiền mặt, góp phần tiết kiệm thời gian cho xã hội, nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước về mặt tiền tệ, kiểm soát các hành vi gian lận thương mại, trén thuế, tham nhũng. Giảm chỉ phí cho xã hội: bằng việc sử dụng các Dịch vụ ngân hàng, xã hội đã giảm được các chi phí như chỉ phí thanh toán, lưu thông tiền mặt (chỉ phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền,. Mặt khác, ngân hàng cũng là một kênh cung cấp vốn với chỉ phí tương đối thấp cho nền kinh tế,nhất là khi ngân hàng phát triển tốt các dịch vụ thanh toán, các Dịch vụ ngân hàng hiện đại. Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế trong điều kiện ôi nhập: bằng việc cung cấp cho.
kinh tế ột kênh huy động vốn với chỉ phí 12 thấp, ngoài ra bằng các dịch vụ của mình, hệ thống các NHTM giúp nền kinh tế ~ xã hội tiết kiệm được thời gian, đó là một trong những yếu tố giúp nền kinh tế nâng cao được năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế. Chính từ sự cạnh tranh này mà ngân hàng có thể đi sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty, xí nghiệp, thông qua đó có thể kiểm soát, giám sát được những. hoạt động của các đơn vị này, góp phần làm cho sản xuất kinh doanh lành mạnh. và hiệu quả hơn.
Đắi với ngân hàng - Tiết kiệm chỉ phí và thời gian NH với chức năng là trung gian thanh toán, hoạt động dịch vụ của ngân hàng sẽ giúp khách hàng tiết kiệm được chỉ phí và thời gian trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, làm tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ đặc biệt, được sự hỗ trợ về mặt công nghệ hiện đại sẽ giúp cho các giao dịch của khách hàng được thực hiện, xử lý nhanh chóng và chính xác. Khách hàng sẽ không phải mắt thời gian đi lại, chờ đợi, khách hàng có thể tiếp cận với bắt cứ giao dich nào của NH vào bắt cứ thời điểm nào hoặc bắt cứ nơi nào họ muốn. ~ Tiếp nhận thông tin nhanh và hiệu quả Thông qua các dịch vụ do ngân hàng cung cắp, khách hàng có thể nhận được những thông tin đáng tin cây, nhanh chóng như về tỷ giá, lãisuất, thông, tin về tài khoản.
để từ đó đưa ra những quyết định kinh doanh chính xác và kịp thời. ~ Nâng cao trình độ thụ hưởng dịch vụ của khách hàng Dich vụ ngân hàng được cung cấp nhằm dé thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng khác nhau của khách hằng. Dịch vụ ngân hàng là loại dịch vụ cần có một sự hiểu biết, kiến thức nhất định của người tiêu dùng, nên phát triển Dịch vụ 13 ngân hàng góp phần nâng cao trình độ thụ hưởng dịch vụ của khách hàng trong. nên kinh tế.
~ Giữ vai trò cốt yếu trong việc đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, thu hút và mở rộng khách hàng Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay, để thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng, các NHTM phải không ngừng mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như đa dạng hóa các sản phẩm Dịch vụ ngân hàng. Có thể nói khách hàng là nhân tố quyết định thành công của tất cả các NHTM.