MỞ ĐẦU 1.1 Lý do hình thành đề tài Khi nhìn vào sự thành công của doanh nghiệp, ta chỉ mới dừng lại ở việc xét các chỉ tiêu hữu hình như doanh số, lợi nhuận, mức lương hay thuế đóng góp cho ngân sách nhà nước của doanh nghiệp mà không xét đến chỉ tiêu vô hình như trách nhiệm xã hội của mỗi doanh nghiệp (Đại biểu nhân dân, 2013). Nhiều ý kiến cho rằng, trách nhiệm xã hội là van dé của nhà nước chứ không phải của doanh nghiệp (Thoa Nguyễn, 2010). Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chủ động thực hiện trách nhiệm xã hội bởi họ chưa thấy được tầm quan trọng của “hiệu ứng thực hiện trách nhiệm xã hội” (Thoa Nguyễn, 2010). Trách nhiệm xã hội ngày nay trở nên quan trọng hơn trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam thông qua hàng loạt vụ việc đáng báo động về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội.
Điền hình như vụ việc công ty Vedan hủy hoại môi trường sông Thị Vải, vụ việc mua sữa tươi với giá thấp của Công ty sữa Việt Nam, vụ sử dụng nguyên liệu hết hạn sử dụng của công ty Tân Hiệp Phát, vụ vi đăng khoai tây của công ty Pepsico Việt Nam và mới đây nhất là vụ việc thu hồi sữa bị dị ứng của công ty Frieslandcampina. Tat cả những doanh nghiệp nêu trên đều là những doanh nghiệp lớn và đã có nhiều hoạt động trách nhiệm xã hội như chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa của Vinamilk và Frieslandcampina, chương trình học bỗng, khuyến học, chương trình tài trợ để cô vũ tinh thần dám chinh phục "Evernest" của Tân Hiệp Phát. Điều này vượt ra khỏi giới hạn việc nộp thuế, tạo công ăn việc làm và bảo vệ môi trường. Khách hang đã thé hiện thái độ lên án và tây chay những sản phẩm của những doanh nghiệp vi phạm, thiếu trách nhiệm.Khách hàng biêu hiện sự không hài lòng của mình đôi việc thiêu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Sự không hai lòng của khách hang gan như đã tác động lên quyết định mua sản phầm của họ, ảnh hưởng trực tiêp đền sự sông còn của doanh nghiệp. 86% 83% bu, ————CCC TC lu 78" —& CWO © 80» Nguồn: Nielsen Hình 1.1; Ti lệ khách hàng sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ của các công ty có cam kêt hoạt động xã hội và bảo vệ môi trường (Nielsen, 2015) Theo báo cáo của Nielsen về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thực hiện vào năm 2015 thì Việt Nam và Philippines là hai trong số những nước có người tiêu dùng quan tâm đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhất thế giới. Nhiều người thậm chí còn kiểm tra bao bì sản phẩm để đánh giá cam kết bảo vệ môi trường mà thương hiệu đã đưa ra. Khảo sát cho thấy gần 86% người được hỏi tại Việt Nam sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm và dịch vụ đến từ các công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường.
Theo ông Vishal Bali, giám đốc khối đo lường người tiêu dùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng “Xu hướng lựa chọn các thương hiệu có cam kết hoạt động xã hội hoặc bảo vệ môi trường khá pho bién tai nhiéu nudc trong khu vuc Dong Nam A, đặc biệt là tại các nước đang phát triển như Việt Nam, Philippines và Thái Lan, vì người tiêu dùng nơi đây thường xuyên phải vật lộn với thiên tai và chứng kiến sự nghèo khổ”. Do đó “Doanh nghiệp nên lưu ý vì các hoạt động xã hội hoặc ủng hộ bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong nhiều nền văn hóa, và có ảnh hưởng nhất định đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng” (Nielsen, 2015). Giáo su Felipe B. Alfonso, Giám đốc điều hành Trung Tâm Trách Nhiệm Xã Hội thuộc Viện Quản Tri A Châu (AIM) phân tích rất nhiều lợi ich mà một doanh nghiệp sẽ được nhận lại khi thực hiện tốt trách nhiệm cộng đồng.
Ông dẫn một kết quả khảo sát tai Philippines 2009 cho thay, 91% doanh nghiệp được khảo sát cho biết, sau các chiến lược trách nhiệm xã hội lượng khách hàng của họ tăng lên, sự hài lòng, kính trọng của người lao động đối với họ cũng tăng (Ngọc Huy, 2009) Vậy doanh nghiệp cần phải làm những gì để khách hàng hài lòng, xã hội đánh giá là doanh nghiệp tốt, phát triển bền vững? Dé trả lời cho câu hỏi này, dé tài nghiên cứu “Anh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến sự hài long và gid trị cam nhận của khách hàng - Một nghiên cứu trong ngành thực phẩm” được hình thành nhằm hiểu rõ hon những cảm nhận, đánh giá của khách hàng về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh 1.2 Mục tiêu của đề tài Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu như sau: — Xác định các yếu tố then chốt về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi khách hàng quyết định mua -sử dụng thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. — Do lường và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tổ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến sự hài lòng và giá trị cảm nhận của khách hàng thông qua mô hình nghiên cứu. — Dé nghị các giải pháp, thông tin hữu ich cho các nhà quản trị nhăm nâng cao sự hài lòng và giá trị cảm nhận của khách hàng.3 Phạm vi đề tài — Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện giới hạn trong ngành thực phẩm.
— Không gian nghiên cứu: Khảo sát được thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. — Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa các thành phần trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với sự hài lòng và giá trị cảm nhận của khách hàng.4 Ý nghĩa của đề tài Trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thực hiện trách nhiệm xã hội là một yêu câu cấp thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, là một trong những yếu tổ tiên quyết đối với khách hàng khi lựa chọn và sử dụng sản phẩm. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với nhà nước băng cách tuân thủ các điều luật, điều lệ ma nhà nước quy định.
Điều này có thé làm giảm lợi nhuận kinh doanh trong ngăn hạn nhưng mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Y nghia cua dé tai gan liền với mục dich căn ban của kinh doanh là tao ra lợi nhuận. Dong thời giúp doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về trách nhiệm xã hội và ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội đến sự hài lòng và giá trị cảm nhận của khách hàng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp thực phẩm tại TP.
Hồ Chí Minh có cái nhìn chỉ tiết hơn về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại thời diém nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MO HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về trách nhiệm xã hội 2.1 Khai niệm trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội được xem là nghĩa vụ của người làm kinh doanh đối với người tiêu dùng và xã hội. Thực hiện các chính sách, đưa ra các quyết định hay hành động đem lại những giá trị đáng mong đợi theo mục đích cá nhân và giá trị xã hội. Trách nhiệm xã hội còn thể hiện sự quan tâm và phản ứng tích cực của doanh nghiệp tới các van đề được pháp luật quy định.
Carroll (1991) đã tâm đắc và phát triển cụ thé khái niệm trách nhiệm xã hội dựa với triết lí của Bowen (1953) như sau: “Trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và nghĩa vụ thiện nguyện mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định”. Carroll đưa ra mô hình kim tự tháp gồm 4 thành phân: Trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm thiện nguyện. Quan điểm của Carroll về trách nhiệm xã hội thể hiện cụ thể trong Hình 2.1: Trách nhiệm từ thiện Cải thiện chât lượng cuộc sông Trách nhiệm đạo đức Thực hiện công băng, hợp lý Trách nhiệm pháp lý Cần tuân thủ pháp luật Trách nhiệm kinh tế Cân có lợi nhuận Hình 2.1: Mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của Caroll (1991) Trach nhiém kinh té: Doanh nghiệp luôn tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh và tăng trưởng. Do đó, chức năng kinh doanh cần được ưu tiên và đặt lên hàng đầu.
Cũng có thể nói răng trách nhiệm kinh tế là yếu tố nền tảng và các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý: Còn được gọi là trách nhiệm tuân thủ pháp luật. Đây là một phân của bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân theo các luật lệ, luật pháp của địa phương, của đất nước và của luật quốc tế trong quá trình hoạt động.
Cùng với trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận nền tảng, cơ bản nhất và không thể thiếu đối với trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm đạo đức: Doanh nghiệp phải đáp ứng các chuẩn mực, kỳ vọng của xã hội, những điều chưa có mặt trong các văn bản luật như tôn trọng quyền con người và chỉ thực hiện những điều đúng, công bằng. Trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi tối thiểu đối với mỗi doanh nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm đạo đức là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung tâm đối với trách nhiệm xã hội.
Điển hình như việc thực hiện ngày nghỉ cuối tuần, tiền cho nhân công làm thêm ca, uy tín đối với đối tác, quan hệ tốt với khách hàng. Trách nhiệm từ thiện: Day là những hoạt động mà doanh nghiệp đã vượt qua sự ky vọng của xã hội như trao quả cho trẻ m6 côi, tài trợ học bồng cho học sinh sinh viên. Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này “hoàn toàn tự nguyện”. Nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện day đủ trách nhiệm với xã hội.
Như vậy, bản chất của trách nhiệm xã hội là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bên vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và gia đình, cộng đồng theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp lẫn xã hội.