CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một xu thế tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng gắn bó mật thiết, hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt. Trong khi các công cụ đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa không còn là biện pháp cạnh tranh hữu hiệu để giành lợi thế trên thương trường thì việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được nhiều doanh nghiệp áp dụng và đã đem lại hiệu quả tích cực.
Một bộ phận quan trọng để khẳng định một doanh nghiệp có đạo đức chính là việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR). Vậy CSR là gì? Năm 1970, trong cuốn sách Capitalism and Freedom, nhà kinh tế học Milton Friedman đã viết: “Có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – đó là sử dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình miễn sao nó vẫn tuân theo các luật chơi, nghĩa là tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt hay gian lận” [24] tuyên bố này khẳng định rằng doanh nghiệp tham gia vào hành vi có CSR khi nó theo đuổi lợi nhuận trong phạm vi giới hạn của pháp luật được xã hội đặt ra với mục tiêu chủ yếu là thỏa mãn các nhu cầu của cổ đông. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa đầy đủ bởi CSR không chỉ dừng lại ở các cá nhân và tổ chức có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng từ các hoạt động của doanh nghiệp mà xa hơn là trách nhiệm với môi trường thiên nhiên, với cộng đồng. Các cuộc bàn luận về CSR vẫn tiếp tục diễn ra trên các diễn đàn và các định nghĩa mới vẫn được đưa ra: “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng cao hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội” (John R.
Hay “Trách nhiệm xã 7 hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”3(John R.Ferrell cũng đưa ra khái niệm súc tích của riêng họ về CSR: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan” (Maignan I.Ferell (2004), “Corporate social responsibility and marketing an intergative framework, Journal of Academy of Marketing Science”, Vol. Tuy nhiên, định nghĩa của nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về CSR là hoàn chỉnh và rõ ràng nhất về CSR: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”(www.org/privatesectot/csr/index. Khái niệm trên đã chỉ ra rằng, CSR là vấn đề liên quan đến nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, từ người tiêu thụ trực tiếp cho tới nhà cung cấp nguyên vật liệu; từ người lao động cho tới những cổ đông doanh nghiệp, cả những nhà đầu tư, các đối tác làm ăn cũng như các tổ chức thương mại, chính quyền địa phương có cũng có mối quan hệ chặt chẽ với dân cư xung quanh doanh nghiệp đặt trụ sở. Định nghĩa cho thấy, việc thực hiện CSR không những mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần cải thiện mức sống của người lao động nói riêng, cho xã hội và cộng đồng nói chung, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của xã hội, đồng thời đảm bảo các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai 1.
Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu CSR 1. Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory) Lý thuyết tính hợp pháp có nguồn gốc từ các khái niệm về tính hợp pháp của tổ chức, được Dowling và Pfeffer đưa ra vào năm 1975. Tính hợp pháp của DN (organisational legitimacy) được nảy sinh và xác định trong môi trường đã được định chế hóa bằng những qui định của luật pháp, bằng những quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở của Lý thuyết tính hợp pháp, các DN sẽ tự nguyện báo cáo thông tin về các hoạt động của mình phù hợp với những qui định của luật pháp, những 8 quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, văn hóa, xã hội.
đáp ứng được kỳ vọng của các cộng đồng xã hội mà doanh nghiệp hoạt động, nhằm giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp phù hợp với các giá trị đang chi phối xã hội. Lý thuyết tính hợp pháp được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Áp lực thể chế bao gồm quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức về thực hiện CSR, áp lực từ yêu cầu của các thành phần có liên quan đến DN; sự nhận thức của nhà quản lý về CSR. Lý thuyết các thành phần có liên quan (Stakehoders Theory) Lý thuyết các thành phần có liên quan được Freeman đưa ra vào năm 1984. Lý thuyết này đặt doanh nghiệp vào trung tâm của tổng thể các mối quan hệ với các thành phần có liên quan, không chỉ là những cổ đông mà bao gồm tất cả các chủ thể khác có liên quan đến các hoạt động và quyết định của DN.
Thành phần có liên quan có thể là cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung ứng, hiệp hội, các cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ. Lý thuyết các thành phần có liên quan, đòi hỏi việc xác định mục tiêu và quản trị DN phải gắn với lợi ích và các yêu cầu của các thành phần có liên quan, đòi hỏi DN phải có nghĩa vụ đạo đức với các thành phần có liên quan. Bởi vì nhờ các thành phần này mới tạo ra sự thành công và giá trị của DN, và DN phải góp phần ra sự sung túc của xã hội, sự công bằng xã hội và sự bình đẳng của các thành phần có liên quan. Lý thuyết về các thành phần có liên quan được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR; áp lực từ yêu cầu có nghĩa vụ đạo đức đối với các thành phần có liên quan ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR.
Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên (Resource Dependence Theory) Lý thuyết này xuất hiện vào những năm 1970, do Pfeffer và Salancik nghiên cứu. Theo khung lý thuyết này, sự hoạt động và tồn tại lâu dài của DN phụ thuộc vào những chủ thể cung cấp các nguồn tài nguyên bên ngoài DN. Vì vậy, hoạt động của DN được công nhận và được đánh giá bởi những tiêu chí của những chủ thể bên ngoài DN. Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên, đòi hỏi DN phải nhận biết và xác định các nhóm xã hội bên ngoài mà DN phụ thuộc, trên cơ sở đó quản lý và điều chỉnh các hoạt động, hành vi phù hợp với nhu cầu của họ, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài.
Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên buộc các DN phải thực hiện các hoạt động thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, 9 nhằm đáp ứng lại sự mong đợi của những chủ thể cung ứng nguồn tài nguyên phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của DN. Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR. Lý thuyết bất định (Contingency Theory) Lý thuyết bất định được hình thành từ những năm 1960 trên cơ sở phát triển từ lý thuyết tổ chức và đến giữa những năm 1970 thì bắt đầu được áp dụng trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực kế toán. Với cách tiếp cận lý thuyết ngẫu nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, các yếu tố ngẫu nhiên có ảnh hưởng quan trọng đến việc thiết kế hệ thống kế toán, hệ thống này hoạt động hiệu quả phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi về hoàn cảnh bên ngoài và các yếu tố bên trong của tổ chức.
Chenhall (2003) đã chỉ ra các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng đến thiết kế hệ thống kế toán, bao gồm: môi trường kinh doanh, chiến lược của tổ chức, nhiệm vụ tổ chức, quy mô, hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh., trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu dựa vào lý thuyết ngẫu nhiên cho thiết kế hệ thống kế toán và kế toán quản trị. Lý thuyết bất định được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR; sự phức tạp khi thực hiện CSR; sự am hiểu về CSR của nhân viên kế toán. Lý thuyết về thể chế (Institutional Theory) Theo lý thuyết thể chế, quyết định của tổ chức không chỉ được điều khiển bởi các mục tiêu về hiệu quả, mà còn chịu ảnh hưởng bởi các ràng buộc như: hiến pháp, luật, phong tục, tập quán, đạo lý., chịu ảnh hưởng bởi các quy chuẩn về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Do áp lực của các ràng buộc này, do áp lực chi phối bởi các quy định chuẩn mực, quy tắc trong thể chế, các tổ chức thay đổi hành vi, thay đổi mô hình tổ chức, chiến lược, quy trình hoạt động, phương pháp tổ chức, công bố thông tin.
phù hợp với môi trường về thể chế, trên cơ sở đó làm tăng khả năng để phát triển, tồn tại hợp pháp trong mối quan hệ với các bên liên quan. Hiện nay, CSR được luật hóa, được định chế hóa và trở thành như là qui ước xã hội, DN hoạt động tương thích với định chế và qui ước đó (Capron và Quairel-Lanoizelée, 2009).