Nghiên cứu khoa học về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

Tài liệu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Hải Phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

2020-2021

120
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Một số vấn đề lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

1.1.2. Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu CSR

1.1.3. Một số bộ tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.1.4. Vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

1.1.6. Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1. Các đặc điểm chính của FDI

1.2.2. Tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3. Kinh nghiệm về việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của Thái Lan

1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Tổng quan về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng

2.1.1. FDI phân theo ngành nghề

2.1.2. FDI phân theo vùng lãnh thổ xuất xứ nguồn đầu tư

2.2. Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng

2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế Hải Phòng thời gian qua

2.2.2. Thực trạng CSR tại các doanh nghiệp FDI Hải Phòng

2.2.2.1. Trách nhiệm xã hội đối với người lao động
2.2.2.2. Trách nhiệm xã hội đối với môi trường

2.2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng

2.2.3.1. Một số kết quả đạt được
2.2.3.2. Một số hạn chế còn tồn tại

3. CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.1. Một số xu hướng chính tác động đến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong tương lai

3.1.1. Thịnh vượng gia tăng

3.1.2. Bền vững sinh thái

3.2. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đại bàn thành phố Hải Phòng

3.2.1. Về phía cơ quan quản lý nhà nước

3.2.2. Về phía các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI

Chương này tập trung vào việc xây dựng cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp FDI. Các khái niệm cơ bản về CSR được trình bày, bao gồm định nghĩa từ Ngân hàng Thế giới: 'CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng đời sống người lao động và cộng đồng.' Các lý thuyết như Lý thuyết tính hợp phápLý thuyết các bên liên quan được sử dụng để phân tích CSR. Các bộ tiêu chuẩn CSR quốc tế như ISO 26000 cũng được đề cập, nhấn mạnh vai trò của CSR trong việc tăng cường uy tín và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

CSR được định nghĩa là cam kết của doanh nghiệp đối với sự phát triển bền vững, bao gồm các hoạt động nhằm cải thiện đời sống người lao động và cộng đồng. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng CSR không chỉ là trách nhiệm với cổ đông mà còn với môi trường và xã hội.

1.2 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu CSR

Lý thuyết tính hợp pháp cho rằng doanh nghiệp cần duy trì sự hợp pháp trong mắt xã hội. Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh việc cân bằng lợi ích giữa các nhóm liên quan như người lao động, nhà đầu tư và cộng đồng.

II. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

Chương này phân tích thực trạng thực hiện CSR của các doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng. Dữ liệu từ giai đoạn 2018-2020 cho thấy, các doanh nghiệp FDI đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế và xã hội địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu cam kết mạnh mẽ với bảo vệ môi trườngphát triển cộng đồng. Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào trách nhiệm với người lao động, nhưng việc thực hiện các tiêu chuẩn CSR quốc tế còn hạn chế.

2.1 Tổng quan về doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong thu hút đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp FDI tại đây chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.

2.2 Thực trạng thực hiện CSR tại các doanh nghiệp FDI

Các doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng đã thực hiện một số hoạt động CSR như đóng góp vào quỹ xã hội và cải thiện điều kiện làm việc. Tuy nhiên, việc thực hiện các tiêu chuẩn CSR quốc tế như ISO 26000 còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

III. Biện pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

Chương này đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao CSR của các doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng. Các giải pháp bao gồm tăng cường nhận thức về CSR, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp, và thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Các biện pháp này nhằm đảm bảo rằng CSR không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp phát triển bền vững.

3.1 Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước

Chính quyền địa phương cần tạo cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện CSR, bao gồm các chính sách ưu đãi và các chương trình đào tạo về CSR.

3.2 Vai trò của doanh nghiệp FDI

Các doanh nghiệp cần chủ động thực hiện CSR, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngphát triển cộng đồng, để tăng cường uy tín và khả năng cạnh tranh.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một xu thế tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng gắn bó mật thiết, hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt. Trong khi các công cụ đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa không còn là biện pháp cạnh tranh hữu hiệu để giành lợi thế trên thương trường thì việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được nhiều doanh nghiệp áp dụng và đã đem lại hiệu quả tích cực.

Một bộ phận quan trọng để khẳng định một doanh nghiệp có đạo đức chính là việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR). Vậy CSR là gì? Năm 1970, trong cuốn sách Capitalism and Freedom, nhà kinh tế học Milton Friedman đã viết: “Có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – đó là sử dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình miễn sao nó vẫn tuân theo các luật chơi, nghĩa là tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt hay gian lận” [24] tuyên bố này khẳng định rằng doanh nghiệp tham gia vào hành vi có CSR khi nó theo đuổi lợi nhuận trong phạm vi giới hạn của pháp luật được xã hội đặt ra với mục tiêu chủ yếu là thỏa mãn các nhu cầu của cổ đông. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa đầy đủ bởi CSR không chỉ dừng lại ở các cá nhân và tổ chức có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng từ các hoạt động của doanh nghiệp mà xa hơn là trách nhiệm với môi trường thiên nhiên, với cộng đồng. Các cuộc bàn luận về CSR vẫn tiếp tục diễn ra trên các diễn đàn và các định nghĩa mới vẫn được đưa ra: “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng cao hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội” (John R.

Hay “Trách nhiệm xã 7 hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”3(John R.Ferrell cũng đưa ra khái niệm súc tích của riêng họ về CSR: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan” (Maignan I.Ferell (2004), “Corporate social responsibility and marketing an intergative framework, Journal of Academy of Marketing Science”, Vol. Tuy nhiên, định nghĩa của nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về CSR là hoàn chỉnh và rõ ràng nhất về CSR: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”(www.org/privatesectot/csr/index. Khái niệm trên đã chỉ ra rằng, CSR là vấn đề liên quan đến nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, từ người tiêu thụ trực tiếp cho tới nhà cung cấp nguyên vật liệu; từ người lao động cho tới những cổ đông doanh nghiệp, cả những nhà đầu tư, các đối tác làm ăn cũng như các tổ chức thương mại, chính quyền địa phương có cũng có mối quan hệ chặt chẽ với dân cư xung quanh doanh nghiệp đặt trụ sở. Định nghĩa cho thấy, việc thực hiện CSR không những mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần cải thiện mức sống của người lao động nói riêng, cho xã hội và cộng đồng nói chung, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của xã hội, đồng thời đảm bảo các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai 1.

Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu CSR 1. Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory) Lý thuyết tính hợp pháp có nguồn gốc từ các khái niệm về tính hợp pháp của tổ chức, được Dowling và Pfeffer đưa ra vào năm 1975. Tính hợp pháp của DN (organisational legitimacy) được nảy sinh và xác định trong môi trường đã được định chế hóa bằng những qui định của luật pháp, bằng những quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở của Lý thuyết tính hợp pháp, các DN sẽ tự nguyện báo cáo thông tin về các hoạt động của mình phù hợp với những qui định của luật pháp, những 8 quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, văn hóa, xã hội.

đáp ứng được kỳ vọng của các cộng đồng xã hội mà doanh nghiệp hoạt động, nhằm giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp phù hợp với các giá trị đang chi phối xã hội. Lý thuyết tính hợp pháp được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Áp lực thể chế bao gồm quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức về thực hiện CSR, áp lực từ yêu cầu của các thành phần có liên quan đến DN; sự nhận thức của nhà quản lý về CSR. Lý thuyết các thành phần có liên quan (Stakehoders Theory) Lý thuyết các thành phần có liên quan được Freeman đưa ra vào năm 1984. Lý thuyết này đặt doanh nghiệp vào trung tâm của tổng thể các mối quan hệ với các thành phần có liên quan, không chỉ là những cổ đông mà bao gồm tất cả các chủ thể khác có liên quan đến các hoạt động và quyết định của DN.

Thành phần có liên quan có thể là cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung ứng, hiệp hội, các cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ. Lý thuyết các thành phần có liên quan, đòi hỏi việc xác định mục tiêu và quản trị DN phải gắn với lợi ích và các yêu cầu của các thành phần có liên quan, đòi hỏi DN phải có nghĩa vụ đạo đức với các thành phần có liên quan. Bởi vì nhờ các thành phần này mới tạo ra sự thành công và giá trị của DN, và DN phải góp phần ra sự sung túc của xã hội, sự công bằng xã hội và sự bình đẳng của các thành phần có liên quan. Lý thuyết về các thành phần có liên quan được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR; áp lực từ yêu cầu có nghĩa vụ đạo đức đối với các thành phần có liên quan ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR.

Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên (Resource Dependence Theory) Lý thuyết này xuất hiện vào những năm 1970, do Pfeffer và Salancik nghiên cứu. Theo khung lý thuyết này, sự hoạt động và tồn tại lâu dài của DN phụ thuộc vào những chủ thể cung cấp các nguồn tài nguyên bên ngoài DN. Vì vậy, hoạt động của DN được công nhận và được đánh giá bởi những tiêu chí của những chủ thể bên ngoài DN. Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên, đòi hỏi DN phải nhận biết và xác định các nhóm xã hội bên ngoài mà DN phụ thuộc, trên cơ sở đó quản lý và điều chỉnh các hoạt động, hành vi phù hợp với nhu cầu của họ, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài.

Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên buộc các DN phải thực hiện các hoạt động thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, 9 nhằm đáp ứng lại sự mong đợi của những chủ thể cung ứng nguồn tài nguyên phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của DN. Lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR. Lý thuyết bất định (Contingency Theory) Lý thuyết bất định được hình thành từ những năm 1960 trên cơ sở phát triển từ lý thuyết tổ chức và đến giữa những năm 1970 thì bắt đầu được áp dụng trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực kế toán. Với cách tiếp cận lý thuyết ngẫu nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, các yếu tố ngẫu nhiên có ảnh hưởng quan trọng đến việc thiết kế hệ thống kế toán, hệ thống này hoạt động hiệu quả phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi về hoàn cảnh bên ngoài và các yếu tố bên trong của tổ chức.

Chenhall (2003) đã chỉ ra các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng đến thiết kế hệ thống kế toán, bao gồm: môi trường kinh doanh, chiến lược của tổ chức, nhiệm vụ tổ chức, quy mô, hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh., trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu dựa vào lý thuyết ngẫu nhiên cho thiết kế hệ thống kế toán và kế toán quản trị. Lý thuyết bất định được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố: Sự nhận thức của nhà quản lý về CSR; chiến lược về CSR; sự phức tạp khi thực hiện CSR; sự am hiểu về CSR của nhân viên kế toán. Lý thuyết về thể chế (Institutional Theory) Theo lý thuyết thể chế, quyết định của tổ chức không chỉ được điều khiển bởi các mục tiêu về hiệu quả, mà còn chịu ảnh hưởng bởi các ràng buộc như: hiến pháp, luật, phong tục, tập quán, đạo lý., chịu ảnh hưởng bởi các quy chuẩn về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Do áp lực của các ràng buộc này, do áp lực chi phối bởi các quy định chuẩn mực, quy tắc trong thể chế, các tổ chức thay đổi hành vi, thay đổi mô hình tổ chức, chiến lược, quy trình hoạt động, phương pháp tổ chức, công bố thông tin.

phù hợp với môi trường về thể chế, trên cơ sở đó làm tăng khả năng để phát triển, tồn tại hợp pháp trong mối quan hệ với các bên liên quan. Hiện nay, CSR được luật hóa, được định chế hóa và trở thành như là qui ước xã hội, DN hoạt động tương thích với định chế và qui ước đó (Capron và Quairel-Lanoizelée, 2009).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và đánh giá vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các khía cạnh pháp lý và thực tiễn mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của trách nhiệm xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn toàn diện về cách các doanh nghiệp FDI đóng góp vào sự phát triển bền vững, đồng thời hiểu rõ hơn về các thách thức và cơ hội trong lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển bền vững, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý chất thải, một yếu tố quan trọng trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Ngoài ra, Đồ án xử lý khí thải full file cad bản vẽ thiết kế hệ thống xử lý khí thải cho lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu công suất 2.000 kg/h sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp kỹ thuật trong xử lý môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục biện pháp cải thiện môi trường làm việc của giáo viên tiểu học ở vùng khó khăn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên mang đến những bài học quý giá về cải thiện môi trường làm việc, một khía cạnh không thể thiếu trong trách nhiệm xã hội.