CHƯƠNG 1: DAT VAN DE 1.1 Dat van đề Trách nhiệm xã hội (CSR) là một chủ dé rất được quan tâm của các học giả ở nhiều lĩnh vực trong hơn 20 năm. Nó đã được nghiên cứu rộng rãi cả lý thuyết và ứng dụng thực tế ở các nước phương Tây (Rupp và cộng sự, 2007). Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kế trong nghiên cứu CSR nhưng các lý thuyết vẫn bị giới hạn ở hai khía cạnh quan trọng. Đầu tiên, mối quan hệ giữa CSR và hiệu suất của công ty vẫn không được hiểu day đủ.
Một số nghiên cứu cho rằng trách nhiệm xã hội làm tăng hiệu suất của một công ty (Fombrun & Shanley, 1990) và một số khác thì không (Waddock & Graves, 1997). Thứ hai, nghiên cứu về CSR vẫn chưa kiểm tra vai trò của các bên liên quan nội bộ trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của tổ chức (Morsing & Schultz, 2006). Thực tế, có rất ít các nghiên cứu thực nghiệm từ một quan điểm nội bộ hoặc của nhân viên trong điều kiện nhân viên nhận thức về trách nhiệm xã hội như thế nào và nhận thức ay tác động đến thái độ và hành vi hăng ngày của họ ra sao (Rupp và cộng sự, 2007). Ngoài ra, các trường hợp nghiên cứu về nhận thức trách nhiệm xã hội của nhân viên lại bị giới hạn ở việc tìm hiểu những nhân tố CSR trong sự hài lòng chung của họ (Valentine & cộng sự, 2008).
Đồng thời, cũng chỉ có một SỐ lượng rất hạn chế các nghiên cứu dựa trên nhận thức của CSR trong các nên kinh tế mới (Senasu & Virakul, 2015). Các nghiên cứu CSR ở nên kinh tế châu Á, so với ở châu Âu và Hoa Kỳ, chủ yếu tập trung vào các khái niệm CSR, hoạt động, và thực hành ở giai đoạn sơ bộ (Welford, 2005). Tai Thái Lan, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào các van đề bên ngoài; đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng, đạo đức hoặc hoạt động tiếp thị (Senasu và Virakul, 2015). Hơn nữa, các nghiên cứu ở nền kinh tế phương Đông ít chú trọng đến những anh hưởng CSR, và nghiên cứu tại các nền kinh tế phương Tây lại cung cấp rat ít về sự tham gia của các nhân viên (Senasu và Virakul, 2015).
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của nhận thức về trách nhiệm xã hội và việc thực hiện trách nhiệm xã hội của nhân viên lên sự hài lòng của nhân viên đó. Nghiên cứu được thực hiện tại các thành phố Hồ Chí Minh. Bởi vì, từ sự thỏa mãn với bản thân công việc và đời sống-công việc sẽ giúp làm tăng hiệu suất trong công việc của người lao động và giúp họ cong hiến lâu dài với tổ chức (Stawiski & cộng sự, 2010; Saikia, 2016).2 Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu tác động của CSR từ góc nhìn của nhân viên đến sự thỏa mãn với bản thân công việc (Job satisfaction) và sự thỏa mãn với đời sống-công việc (Work-life safisfaction). Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm xác định: (1) Sự ảnh hưởng từ nhận thức kỳ vọng của nhân viên về CSR (Perceived CSR) đến sự thỏa mãn với đời sống — công việc (Work-life satisfaction) của nhân viên va với bản thân công việc (Job satisfaction) của nhân viền.
(2) Sự ảnh hưởng từ nhận thức của nhân viên về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Implemented CSR) đến sự thỏa mãn với đời sống-công việc (Work-life satisfaction) của nhân viên và sự thỏa mãn với ban thân công việc (Job satisfaction) của nhân viên. (3) Sự khác biệt trong nhận thức về CSR ảnh hưởng lên sự thỏa mãn của nhân viên theo các biến nhân khâu học. (4) Các dé xuất cho doanh nghiệp nhằm nâng cao mức độ hài lòng cho nhân viên.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là tác động của nhận thức kỳ vọng của nhân viên về CSR (Perceived CSR) và nhận thức vẻ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Implemented CSR) lên sự thỏa mãn của nhân viên. Đối tượng khảo sát là nhân viên trong doanh nghiệp tại thành phố Hỗ Chí Minh Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 1.4 Y nghĩa đề tài nghiên cứu Xác định sự ảnh hưởng nhận thức kỳ vọng của nhân viên về CSR (Perceived CSR) và nhận thức việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Implemented CSR) lên sự thỏa mãn của nhân viên.
Từ đó, giúp xác định được tác động tiêm năng của việc thực hiện CSR của doanh nghiệp lên hiệu quả làm việc của nhân viên nói chung và kết quả hoạt động của công ty nói riêng.5 Bồ cục của báo cáo nghiên cứu Báo cáo nghiên cứu được chia thành năm chương. Chương | giới thiệu tong quan về cơ sở hình thành dé tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của dé tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về khái niệm trách nhiệm xã hội, nhận thức kỳ vọng của nhân viên về CSR (Perceived CSR), nhận thức về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Implemented CSR), sự thỏa man với bản thân công việc (Job satisfaction), sự thỏa mãn với đời sống- công việc (Work-life satisfaction), tác động về nhận thức CSR của nhân viên lên sự thỏa mãn với bản thân công việc (Job satisfaction) và sự thỏa mãn với đời sống- công việc (Work-life satisfaction). Chương3 trình bày phương pháp nghiên cứu.
Chương4 trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5 tóm tắt kết quả nghiên cứu, những đóng góp cũng như hạn chế của dé tài và định hướng những nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Đề tài thực hiện lại nghiên cứu “Ảnh hưởng của nhận thức về trách nhiệm xã hội và thực hiện trách nhiệm xã hội lên kết quả công việc — Dưới góc nhìn của nhân sự” của Senasu & Virakul (2015) tại Thái Lan. Kết quả nghiên cứu trên cho thay nhan thức ky vọng về trách nhiệm xã hội (PCSR), nhận thức về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (ICSR) có ảnh hưởng tích cực lên sự thỏa mãn với bản thân công việc và với đời sống-công việc của nhân viên (Senasu & Virakul, 2015).
Trong đó, yếu tố ICSR đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán sự thỏa mãn với đời sông- công việc, đóng góp kiến thức cơ bản về lợi ích của CSR trong doanh nghiệp. Nghiên cứu nảy cũng đã xác nhận lại kết quả từ những nghiên cứu trước răng việc bao gồm những hoạt động CSR trong doanh nghiệp hoặc đặt CSR làm nên tảng trong công việc có thé giúp cân bằng hiệu suất của doanh nghiệp (Senasu & Virakul, 2015). Đồng thời trong nghiên cứu còn cho thay ảnh hưởng của những yếu tố nhân khẩu học lên hiệu quả hoạt động của tô chức (Senasu & Virakul, 2015). Dưới đây, đề tài trình bày các khái niệm trong nghiên cứu bao gồm trách nhiệm xã hội (CSR), nhận thức kỳ vọng về trách nhiệm xã hội (PCSR), nhận thức về việc thực hiện trách nhiệm xã hội (ICSR), sự thỏa mãn với ban thân công việc (Job satisfaction) và sự thỏa man với đời sống-công việc (work-life satisfaction).1 Trach nhiệm xã hội (CSR) Trach nhiệm xã hội (CSR) đã được nghiên cứu vào nhiều thập kỷ trước.
Trong một bảng phân tích về nội dung của học thuyết CSR đã tìm thấy 181 bài báo đã được phát hành trên tạp chí quản lý hàng đầu với một nửa là từ năm 2005 (Glavas & Kelley, 2014). Hơn nữa, ít nhất hai mươi tạp chí chuyên ngành tập trung cụ thể về CSR (Glavas & Kelley, 2014). Nghiên cứu trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trở lại ít nhất là vào những năm 1930 (Glavas & Kelley, 2014). Thông qua những giai đoạn đầu, nghiên cứu CSR thường gọi là trách nhiệm xã hội, lý thuyết chủ yếu ở cấp tô chức (Glavas & Kelley, 2014) với những lập luận xoay quanh vai trò của các công ty trong xã hội (Glavas & Kelley, 2014).
Tuy nhiên, vai trò rõ ràng của các công ty và đặc biệt là các khái niệm CSR không xuất hiện và vấn đề này càng trở nên ít rõ ràng hơn vào những thập ký tiếp theo (Glavas & Kelley, 2014). Định nghĩa Carroll (1991) có ảnh hưởng lớn với nghiên cứu CSR. Ông đã xây dựng mô hình khái niệm trách nhiệm xã hội hình tháp gồm bốn yếu tố là trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tùy chọn. Trong đó, trách nhiệm kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận, duy trì lợi nhuận ở mức độ ồn định, duy trì vị thế cạnh tranh và mức độ hoạt động hiệu quả.
Trách nhiệm pháp lý nghĩa là phải phù hợp với kỳ vọng của chính quyên, pháp luật và những quy định khác nhau giữa các liên bang, tiểu bang, địa phương, là một công dân tổ chức tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ pháp luật, cung cấp hàng hóa đáp ứng yêu câu pháp lý tối thiểu. Trách nhiệm đạo đức nghĩa là phải phù hợp với những kỳ vọng về chuẩn mực đạo đức và xã hội, nhận ra và tôn trọng những điều mới, hoặc phát triển những chuẩn mực đạo đức được chấp nhận bởi xã hội, ngăn chặn những điều làm tốn hại đến chuẩn mực đạo đức dé dat được mục tiêu; một công dân tô chức tốt được định nghĩa là làm những điều đáp ứng được những ky vọng về chuẩn mực đạo đức, va quan trọng là sự liêm chính và những hành vi đạo đức thì năm ngoài những quy định và luật pháp. Trách nhiệm tùy chọn là những cử chỉ phù hợp với mong đợi nhân văn của xã hội, các nhà quản lý và nhân viên tham gia tự nguyện vào các hoạt động từ thiện trong cộng đồng địa phương. hỗ trợ cho những tô chức giáo dục tư nhân và công chúng, hỗ trợ tự nguyện cho những dự án tăng cường "Chất lượng cuộc sống” (Carroll, 1991) Trach nhiệm tùy chon Trach nhiệm dao đức Trach nhiém phap ly Trach nhiém kinh té Hình 2-1: Mô hình trách nhiệm xã hội cua Carroll (1991) Ngoài ra, Senasu & Virakul (2015) và Aguinis (2011) đã định nghĩa trách nhiệm xã hội là "bộ triết lý, chính sách, động lực, cam kết, và các hoạt động của các công ty kinh doanh, xem xét các yêu cầu cân băng giữa lợi nhuận tài chính với lợi ích của tất cả các bên hữu quan".
Các nhóm hữu quan bao gồm cô đông, khách hang, nhà cung cấp, nhân viên, cộng đồng và các tổ chức xã hội (Carroll, 1991).2 Nhận thức kỳ vọng về CSR (Perceived CSR - PCSR) Nhận thức kỳ vọng về CSR (Perceived CSR) được định nghĩa là nhận thức CSR của bản thân người nhân viên dựa trên nguyên tắc đạo đức căn bản (Senasu & Virakul, 2015).