MỞ ĐẦU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ý THỨC TRÁCH NHIỆM TRONG HỌC TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG CỦA SINH VIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM. Mỗi con ngƣời là một thực thể tồn tại trong xã hội, gắn một trách nhiệm mà mình phải đảm đang: trách nhiệm với bản thân; với các mối quan hệ: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp; trách nhiệm công việc; trách nhiệm với xã hội,… Con ngƣời có trách nhiệm bản thân mới tiến bộ, xã hội mới phát triển. Trách nhiệm còn đƣợc xem là sự ràng buộc, là điều kiện để thành công.
Vì vậy, vấn đề này đã đƣợc rất nhiều nhà giáo dục quan tâm trong việc giáo dục thế hệ trẻ ngày nay. Trên thế giới Ở bất kỳ thời đại nào, ở mỗi quốc gia, giáo dục luôn có vai trò quan trọng cho sự phát triển xã hội. Giáo dục con ngƣời có kiến thức, kỹ năng, thái độ tích cực, chủ động sáng tạo và ứng xử phù hợp trong các mối tƣơng tác xã hội. Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%.
Kỹ năng mềm đóng vai trò quyết định cho sự thành công, đây chính là những kỹ năng sống mà con ngƣời cần phải có. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, giáo dục không chỉ dạy con ngƣời về vấn đề tri thức mà còn dạy về việc sử dụng công nghệ, về khả năng thích ứng với sự thay đổi, hay chính là các kỹ năng sống. Bốn mục tiêu giáo dục của UNESCO khuyến nghị năm 1996, đó là: “Học để biết, Học để làm việc, Học để chung sống cùng nhau và Học để làm ngƣời”. Trong đó, ba trong bốn mục tiêu giáo dục là mục tiêu về kỹ năng sống giúp con ngƣời có khả năng thích nghi, đáp ứng với sự thay đổi mang tính tất yếu.
Đây đƣợc xem là kim chỉ nam, là triết lý định hƣớng cho sự thay đổi, phát triển trong giáo dục. Một xã hội càng phát triển, thì đòi hỏi về sự đoàn kết, thống nhất ngày càng cao. Nhƣ vậy việc hình thành các kỹ năng sống, kỹ năng chung sống là vấn đề hết sức quan trọng: kỹ năng hiểu mình, hiểu ngƣời, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng hợp tác, v.v…Ngoài ra, UNESSCO cũng đƣa ra 12 giá trị sống cơ bản: Hòa bình, Tôn trọng, Khoan dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh 8 Luan van phúc, Yêu thƣơng, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do, Đoàn kết, mà con ngƣời cần phải đƣợc dạy, bởi vì các giá trị sống là nền tảng cốt lõi để hình thành kỹ năng sống. Tại một Hội nghị quốc tế về Phòng chống các tệ nạn xã hội, Tổng thƣ ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã nêu rằng: "Tất cả các vấn đề trên thế giới đều do thiếu vắng các giá trị mà hình thành.
Chúng ta mới chỉ cắt các cành nhánh của vấn đề, mà không đi vào gốc rễ của nó". Ông cho rằng các giá trị sống đƣợc xem là gốc rễ của vấn đề, do đó vào tháng 8 năm 1996 các nhà giáo dục trên thế giới đã đƣợc triệu tập với mục đích kêu gọi sự chia sẻ các giá trị cho một thế giới tốt đẹp hơn. Từ đó, Hiệp hội giáo dục các Giá trị sống quốc tế (ALIVE) đã đƣợc hình thành và đã soạn thảo một chƣơng trình giáo dục bao gồm 12 giá trị cơ bản với hàng loạt các hoạt động mang tính trải nghiệm và các phƣơng pháp thực hành. Hiện chƣơng trình này đã có mặt trên 80 quốc gia trên thế giới.
Mƣời hai giá trị này đều thực sự cần thiết, trong đó có giá trị trách nhiệm: Trách nhiệm là thực hiện phần đóng góp của mình vào công việc chung, chấp nhận những đòi hỏi và thực hiện nhiệm vụ với lòng trung thực. Khi một ngƣời có trách nhiệm, họ bằng lòng với những khó khăn, gian khổ, đóng góp công sức của mình một cách ý thức. Một ngƣời có trách nhiệm cũng biết thế nào là công bằng, có trách nhiệm cũng có nghĩa là có quyền lợi và ngƣợc lại. Bởi vậy, trách nhiệm không chỉ có nghĩa là những sự ràng buộc, mà còn là những gì cho phép ta đạt đƣợc những điều mình muốn.
Vì thế, để giáo dục sinh viên có trách nhiệm là vấn đề luôn đƣợc đặt ra bởi các nhà giáo dục. Vấn đề đƣợc nhắc đến nhiều và cần thiết hiện nay là trách nhiệm xã hội. Năm 1990, trong bài viết của tác giả Sheldon Berman: “Educating for social responsibility” giáo dục trẻ em có ý thức xã hội bằng cách dạy họ cách giải quyết vấn đề trong mối quan hệ tƣơng tác giữa con ngƣời, kinh tế, môi trƣờng, và thế giới xung quanh. Điều này đƣợc tác giả trình bày ở hình sau: 9 Luan van Phát triển sự hiểu biết những vấn đề tƣơng thuộc của chúng ta - Giáo dục toàn cầu - Giáo dục đa văn hóa - Giáo dục môi trƣờng - Phân tích hệ thống Khám phá những vấn đề của thế Những cơ hội để trở thành ngƣời có giới thực trách nhiệm với cộng đồng - Sự thẩm vấn - Chia sẻ mục tiêu - Tƣ duy phê phán - Tham gia vào những quyết định - Đối thoại - Nổ lực mang tính tập thể - Thƣơng lƣợng - Công nhận thành tựu của cộng đồng Gắn kết với thế giới Phát triển những kỹ năng cơ bản Những kỹ năng xã hội cơ bản của ngƣời tham dự - Hợp tác - Kỹ năng tổ chức - Giải quyết xung đột - Kỹ năng xây dựng sự đồng lòng - Chấp nhận quan điểm của ngƣời khác - Kỹ năng giải quyết vấn đề nhóm - Tƣơng tác với chính chúng ta - Kỹ năng tƣ duy Cơ hội cho những đóng góp mang tính xã hội - Phục vụ cộng đồng - SV giúp đỡ lẫn nhau - Phục vụ trƣờng học - Phân tích hệ thống Hình 1: Phát triển ý thức xã hội Nguồn: Copyright 1990, Selley Berman Educations for Social Responsibility Mô hình trên cho thấy rằng: con ngƣời sống trong mối quan hệ tƣơng tác với môi trƣờng thiên nhiên, môi trƣờng xã hội, tƣơng tác với con ngƣời và với chính họ.
Để có sự tƣơng tác tốt thì con ngƣời phải hiểu về môi trƣờng mình đang sống, và có những kỹ năng sống cơ bản: kỹ năng cá nhân, kỹ năng xã hội, và trách nhiệm với cộng đồng. Những điều này đều dựa trên các giá trị cơ bản nhƣ: hợp tác, chia sẻ, tôn trọng, đoàn kết,… Thêm nữa, Trƣờng British Colubia, Canada, trong tài liệu về các chuẩn trách nhiệm xã hội cho học sinh tiểu học đến lớp 10 cho rằng: “Tự đánh giá là một phần của sự phát triển trách nhiệm xã hội. Bất cứ khi nào có thể, học sinh nên đƣợc tạo động cơ và tự đánh giá cho chính sự tiến bộ của họ”. Tài liệu đƣa ra khung chuẩn về trách nhiệm xã hội, là kết quả của 2 năm nghiên cứu đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp: GV quan sát hành vi cƣ xử của ngƣời học, dựa vào sản phẩm hoặc từ các dự án của ngƣời 10 Luan van học, và sự phản hồi cũng nhƣ báo cáo của ngƣời học để thu thập chứng cứ cho nghiên cứu này.
Khung chuẩn này xem xét ở 4 khía cạnh của trách nhiệm, đó là: - Sự đóng góp đến cộng đồng của lớp học và nhà trƣờng. - Giải quyết vấn đề trong những cách mang tính hòa bình. - Đánh giá sự đa dạng và bảo vệ quyền con ngƣời. - Thực tập quyền dân chủ và trách nhiệm Với khung chuẩn đƣa ra về trách nhiệm xã hội, trong những yếu tố của 4 khía cạnh trên đều dựa trên nền tảng của các giá trị sống nhƣ: hòa bình, tôn trọng, đoàn kết…Và với mỗi cấp độ của ngƣời học, chƣơng trình thiết kế các hoạt động khác nhau: từ cộng đồng xã hội thu nhỏ, nhƣ tập thể nhóm, tập thể lớp, trƣờng, thông các các mối quan hệ, tƣơng tác giữa các thành viên trong nhóm, môi trƣờng lớp học, đến các hoạt động với cộng đồng xã hội, thế giới và điều này đƣợc thiết kế cho ngƣời học từ lớp 11 trở đi.
Thông qua các hoạt động cộng đồng là cách để giáo dục ý thức, trách nhiệm xã hội. Với hơn 10 năm giảng dạy, Ông Steve Reifman1 (năm 2013), chia sẻ 9 cách quản lý lớp học để nuôi dƣỡng sự trách nhiệm cho sinh viên đó là: (1) Là mẫu ngƣời tƣơng xứng: để dạy sự trách nhiệm cho SV thì GV phải minh chứng những điều đã nói tƣơng ứng với hành động. (2) Xác lập mục đích: SV sẽ trách nhiệm khi họ hiểu mục đích công việc đang làm. Thƣờng đầu năm học, Ông Steve đã giúp SV xác định mục đích và tuyên bố nhiệm vụ để đạt đƣợc mục đích.
(3) Hãy để SV hành động và lựa chọn cơ hội cho chính họ. Động cơ của SV sẽ gia tăng khi họ biết rằng họ phải có sự lựa chọn sáng suốt và chịu trách nhiệm với điều này. (4) Giảm sử dụng phần thƣởng. Dùng thƣởng phạt là cách rất phổ biến để điều khiển hành vi của SV, nhƣng có một hậu quả là SV không đƣợc học để tự điều khiển bởi chính họ trong khi họ đang bị điều khiển.
1 Steve Reifman là một giáo viên trƣờng tiểu học National Board Certified, tác giả và diễn giả tại Santa Monica, CA. Ông đã viết nhiều sách cho các nhà giáo dục và phụ huynh, nhƣ: Changing Kids’ Lives One Quote at a Time, Eight Essentials for Empowered Teaching and Learning, K-8, and the soon-to-be- released Rock It! www. 11 Luan van (5) Sử dụng “think - starters”: GV sử dụng yêu cầu (câu hỏi) : Bạn cần làm việc gì trƣớc trong công việc? hơn là phải bảo họ làm cái gì. Với cách này gia tăng trách nhiệm cho SV và họ sẽ nhớ đƣợc những điều họ phải làm.
(6) Khuyến khích SV tự nhận thức. GV giúp SV tự đặt mục tiêu, nhận biết điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, SV đƣợc tạo động cơ nhiều hơn để gánh lấy trách nhiệm nâng cao công việc và hành vi của mình. (7) Đừng làm mọi việc cho SV mà để họ tự làm cho chính họ. Chúng ta cho SV cơ hội giải quyết vấn đề độc lập và chứng minh trách nhiệm của họ.
(8) Ghi nhận sự nổ lực của SV. Một vài SV thụ động có thể cho họ nghe phần trình bày của các bạn cùng lớp về cách xử lý thử thách tình huống của bạn mình. Với cách này giúp SV nhìn các bạn khác nhƣ là động cơ làm việc. (9) Chia sẻ câu chuyện cá nhân để truyền cảm hứng cho SV.