CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG Ly do hình thành dé tai; Muc tiéu nghién ctru; Pham vi nghiên cứu; Y nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài 1. Giới thiệu chung Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là khi chúng ta chính thức trở thành thành viên của WTO thì hoạt động của các công ty ở Việt Nam sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn. Để tận dụng được những cơ hội và hạn chế được những thách thức trên bước đường hội nhập thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh và hoạt động có lãi. Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, tạo lòng tin cho các đối tác, giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh được với các công ty khác.
Vì vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh dé thay được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mình. Theo xu thế chung đó cùng với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009 vừa qua, ngành kinh doanh bất động sản của Việt Nam trong những năm gần đây cũng đang loay hoay tìm lối ra cho minh trong bồi cảnh thị trường giao dịch tram lắng nói theo cách của những nhà chuyên môn là “đóng băng” liên tiếp. Theo phân tích của Ngân hàng nhà nước Việt Nam số đăng ngày 17/09/2007 Thị trường bất động sản năm sau lạnh hơn năm trước, số liệu thông kê cho thấy Năm 2005 giao dịch địa ốc thành công giảm 28%, năm 2004 giảm 56% và năm 2005 giảm 78%. Giá nhà đất trên mặt bằng cả nước hiện đang có biểu hiện sụt giảm rõ nét, tuy diễn biến không đồng đều va khá phức tạp, qua khảo sát ở một số địa phương phía bắc thì giá nhà đất có nơi đã hạ tới 30- 40% mà vẫn không có người mua.
Hậu quả của việc thị trường bất động sản đóng băng va có những biểu hiện thoái trào trong thời gian qua, đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ tới nên kinh tế: Trước hết nhiều doanh nghiệp và người dân khó trả lãi ngân hàng và theo nhận định của Hiệp hội Kinh doanh Bat dong san TP. Hồ Chí Minh nếu cứ kéo dài tình trạng này sẽ có ít nhất hơn 30% doanh nghiệp bị phá sản, hiện tại TP.Hồ Chí Minh đã có tới 50% các doanh nghiệp kinh doanh địa ốc trên địa bàn phải đóng cửa, 30% hoạt động cầm chừng, chỉ còn 20% là tiếp tục đi sâu đầu tư kinh doanh; Tiếp đến của việc hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đồ bể là nguồn thu Ngân sách nhà nước bị giảm đáng kể và nghiêm trong hon sẽ đến lượt các ngân hàng cũng phải đối diện với “nợ xấu”. Theo số liệu thông kê chưa day đủ của Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện số vốn đầu tư vào kinh doanh bất động sản ở nước ta có tới trên 60% là tiền vay ngân hàng. Trên địa ban TP.Hồ Chí Minh, có khoảng 4.000 cá nhân, doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản với số vốn khoảng 50.000 tỉ đồng, trong đó có tới 28.000 tỉ đồng là vay ngân hàng.
Tuy răng con số này chưa phải là lớn so với tong cho vay nền kinh tế của toan hệ thống ngân hàng nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan năm 1997 là một ví dụ cho thay dang sau sự đồ vỡ của “bóng bóng” bat động san là sự đồ vỡ dây chuyền của hệ thống Ngân hang và cuối cùng là hậu quả tất yếu của một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng đã kéo nền kinh tế Thái Lan lùi lại hàng chục năm 1. Ly do hình thành đề tài Trước tình hình đó, giải pháp hữu hiệu cho các doanh nghiệp trong ngành là phải tự cải thiện chính mình bằng cách đánh giá lại hiệu quả hoạt động trong nội bộ nhằm kip thời điều chỉnh chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh và phương pháp quản lý để thích nghi với điều kiện khó khăn trước mắt. Nhưng để thực hiện điều này cần có một phương pháp thực hiện mang tính khách quan và khoa học để phản ánh trung thực tình trạng hoạt động của mình, chỉ rõ ra những khía cạnh còn yếu kém hoặc không phù hợp với tình hình chung trước mat va dé ra các giải pháp điều chỉnh hoặc dau tư chiến lược mới. Hon thé nữa, tháng 05 năm 2011, một cuộc họp thao với chu đề “Balanced Scorecard cho sự phát triển bền vững - Ứng dụng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ” do Viện Marketting và Quản trị Việt Nam (VMI) tổ chức dé giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có một cái nhìn rõ hơn về cách làm thê nào đê các khái niệm của BSC thích ứng với tô chức của mình và áp dụng chúng thành công.
Hội thảo cũng đã chỉ rõ cho thấy Balanced Scorecard là một công cụ quản tri hiện đại với ưu thé nồi bật là quản lý hiệu quả công việc kêt nôi với chiên lược Vì những lý do đó cùng với thực tiễn công việc của mình, tác giả nhận thấy đây là phương pháp tối ưu thỏa mãn đòi hỏi nhu cầu quản trị chiến lược và đánh giá hiệu quả hoạt động. Từ ý tưởng đó phát triển thành dé tai “Nghiên cứu áp dung Balanced Scorecard đánh gia kết quả hoạt động của Phòng kinh doanh một công ty bất động sản” và công ty được lựa chọn dé thực hiện nghiên cứu nay là đơn vị học viên đang làm việc “ Công ty Cổ phần Xây dựng & Phát triển nhà Hoang Anh — Hoàng Anh Gia Lai Group”. Muc tiêu nghiên cứu Hội thao “Balanced Scorecard cho sự phát triển bền vững - Ứng dụng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ” cũng cho thấy phương pháp này chưa được pho biến rộng rãi tại Việt Nam, chỉ một vai doanh nghiệp có quy mô lớn nhận thức và áp dụng. Vì vậy, tác giả nhận thay can thiết phải làm rõ mục tiêu nghiên cứu theo hướng tiếp cận như sau: e Kha năng ứng dụng cua Balanced Scorecard trong việc quan lý của các công ty xây dựng nhằm khuyến khích các nha quản ly sử dụng kỹ thuật này như là một công cụ quan tri theo phương thức mới, hiện đại và hoàn toàn đạt được hiệu quả như mong muốn.
e - Đánh giá hiệu quả hoạt động của một Phòng kinh doanh tại một doanh nghiệp kinh doanh bất động sản để thấy được tính thực tiễn cao trong việc áp dụng kỹ thuật Balanced Scorecard va dé xuất phương án cải thiện thông qua kỹ thuật Quality Function Deployment (QFD). Pham vi nghiên cứu 1. Địa điểm thực hiện Do đề tài có thời gian nghiên cứu cho phép giới hạn nên việc nghiên cứu chỉ được thực hiện tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát đối với các doanh nghiệp xây dung, kinh doanh bất động sản. Nội dung thực hiện Tìm hiểu tính thực tiễn của việc ứng dụng kỹ thuật Balanced Scorecard trong quản lý và áp dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của Phòng kinh doanh một công ty kinh doanh bất động sản.
Y nghĩa thực tiễn của đề tài Dé tai mang tính thực tiên cao vì có thê giúp ích cho các nha quản lý, điêu hành các vân đề cụ thê sau: e Mot công cụ quản tri hiện đại có phương pháp thực hiện đơn giản và hiệu quả cao trong thực tiễn quản lý đối với nhà quản trị, giúp cho các doanh nghiệp phát triển bền vững mà không phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. e Các biện pháp cải thiện các yếu tô kém hiệu qua cũng được thực hiện trên nên tang lý thuyết Quality Function Deployment cũng là một lý thuyết đánh giá sắp hạng mức độ hiệu quả của các biện pháp này, giúp doanh nghiệp định hướng các bước cải thiện một cách hiệu quả nhât. CHƯƠNG 2 TONG QUAN - Các nghiên cứu tương tu: Tóm lược - Các vân đê cân nghiên cứu trong dé tai 2. Cac nghiên cứu tương tự: Tóm lược 2.
Các nghiên cứu ở nước ngoài e Szeto Wan Ping, “Perception and Applicability of BSC in Hong Kong Organizations”, April 2006, thuộc trường Dai hoc Hồng Kông Baptist đã làm khảo sát về việc nhận thức va kha năng ứng dụng Balanced Scorecard trong các tô chức ở Hồng Kông. Meyer , University of Pennsylvania, “Subjectivity and the Weighting of Performance Measures: Evidence from a Balanced Scorecard”, trich trong 725 The Accounting Review Vol. Nghiên cứu tìm thay sự chủ quan trong việc đặt nặng điểm số cho đo lường về tài chính và giảm nhẹ sự “cân bằng” với các đo lường khác, nghiên cứu gợi ý rằng các giải thích cơ bản về tâm lý có thể là như nhau nhưng hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào các giải thích về tài chính trong việc lý giải các thực tiễn đo lường của phần chính (firm). Mức độ chủ quan cấp độ cao làm cho các nha quan lý chỉ nhánh phan nàn về khuynh hướng yêu thích trong việc cho điểm và không có sự chắc chắn về các tiêu chí đang được sử dụng để quyết định điểm số.
Hệ thông đo lường bị loại bỏ tính ưu ái của kế hoạch cho điểm được lập thành công thức mà chỉ căn cứ vào thu nhập. e Heinz Ahn, “Applying the Balanced Scorecard Concept: An Expirence Report”, Long Range Planning, Volumn 34, Issue 4, August 2001, Trang 441-461. Dé tai nay cho thay một cái nhìn xuyên suốt về tiễn trình soạn thảo chỉ tiết Balanced Scorecard cho chiến lược phòng kinh doanh của ABB Industrie AG, trình bày kinh nghiệm của phòng đạt được trong quá trình giới thiệu Balanced Scorecard cũng như nhẫn mạnh đền việc cung cap quan trọng liên quan dén sự giới hạn của việc tiép cận này. e Jonghyeok Kim, Euiho Suh and Hyunseok Hwang, “A model for evaluating the effectiveness of CRM using the balanced scorecard”, Jounal of Interactive marketing Volume 17, number 2, Spring 2003.
Mục dich cua nghiên cứu là do lường thuộc tính vô hình của lợi nhuận, như là mở rộng giá tri, tính hiệu quả, sự cải tiễn và cải thiện dịch vụ. Trong tài liệu này, các tác gia đề xuất một khuynh hướng khách hàng. Các nghiên cứu trong nước e Lê Minh Khánh, trường Dai học Bách Khoa TP H6 Chi Minh, trong luận van tốt nghiệp của mình đã trình bày nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật Balanced scorecard để đánh giá hiệu quả làm việc Phòng Công trình thuộc công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng. e Vũ Hong Đăng, trường Dai học Bách Khoa TP H6 chí Minh, “Do lường sự thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật BALANCED SCORECARD.
Dự án áp dụng: Dự án dau tư xây dựng khu dân cư Đồng Diều - Q. HCM” e Lưu Trọng Tuan, “Balanced Scorecard implementation at Rang Dong plastic joint-stock company (RDP)”, International Journal of Business and Management, Vol 5, No 7, 2010.