CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Phát triển khoa học công nghệ và chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học công nghệ 1. Tổng quan về phát triển khoa học công nghệ 1. Khái niệm phát triển khoa học công nghệ Khoa học được hiểu là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn.
Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. (Phạm Thị Thủy, 2018) Hoạt động KHCN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KHCN vào đời sống, xã hội. Hoạt động KHCN bao gồm hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), giáo dục và đào tạo về KHCN (STET) và dịch vụ KHCN (STS). Hoạt động giáo dục và đào tạo về KHCN là các hoạt động ở bậc đại học, sau đại học và bồi dưỡng thường xuyên dành cho các nhà khoa học và kỹ sư.
Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực KTXH. (Phạm Thị Thủy, 2018) Phát triển theo quan điểm của kinh tế học là sự thay đổi về lượng và biến đổi về chất của một phạm trù nào đó theo hướng tích cực hơn. e 9 Như vậy kết hợp các khái niệm, luận văn cho rằng: Phát triển KHCN là sự thay đổi về lượng và biến đổi về chất của các lĩnh vực KHCN (thường gắn với một quốc gia, một địa phương) theo hướng tích cực hơn. Trong đó, các lĩnh vực KHCN bao gồm: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội nhân văn; khoa học kỹ thuật và công nghệ; khoa học nông nghiệp; khoa học y dược.
Vai trò của phát triển khoa học công nghệ Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, nhận thức về vai trò của KHCN đối với sự phát triển đất nước được nâng lên đáng kể; KHCN từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển KTXH, đã đóng góp tích cực hơn trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội; góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, con người Việt Nam,. Vai trò của phát triển KHCN được thể hiện: - Phát triển KHCN thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: Sự ra đời, phát triển của KHCN mới kéo theo sự phát triển kinh tế theo chiều sau. Việc tăng trưởng kinh tế này dựa trên hiệu quả sản xuất. KHCN chính là công cụ hữu hiệu giúp chuyển nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp.
Phát triển các ngành công nghệ cao với việc sử dụng phần lớn các lao động tri thức. - Phát triển KHCN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: KHCN phát triển giúp các ngành phát triển nhanh kéo theo phân công xã hội ngày càng đa dạng. Các ngành kinh tế được chia thành những ngành nhỏ với các lĩnh vực kinh tế mới. Điều này dẫn tới sự chuyển dịch kinh tế theo hướng hiện đại, tích cực.
Tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp có xu hướng giảm. Cơ cấu kinh tế từng ngành có sự thay đổi theo hướng mở rộng các ngành công nghệ cao, lượng lao động có trình độ và tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn. e 10 - Phát triển KHCN thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ: Áp dụng công nghệ hiện đại là yếu tố giúp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Công nghệ khoa học hiện đại đã tác động tới nguồn nguyên vật liệu sản xuất thêm đồng bộ, cải tiến.
Quy mô sản xuất cũng được mở rộng thêm với sự ra đời, phát triển của các loại hình doanh nghiệp mới. Trước sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp buộc có chiến lược kinh doanh mới. - Phát triển KHCN góp phần ổn định chính trị, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân: Sự phát triển KHCN hiện đại góp phần phục vụ đời sống con người, nâng cao đời sống người dân. Hàng loạt thiết bị điện tử, sản phẩm công nghệ hiện đại lần lượt ra đời giúp cuộc sống hiện đại hơn.
Từ đó tạo ra tác độn lan tỏ đến việc ổn định tình hình chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Tổng quan về chi vốn ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học công nghệ 1. Khái niệm và đặc điểm của chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học công nghệ Theo Điều 4 Luật NSNN năm 2015: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN là một hệ thống thống nhất, bao gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (hay ngân sách địa phương).
(Quốc hội, 2015) Chi NSNN được hiểu là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KTXH của mình trong từng thời kỳ nhất định. Chi cho sự nghiệp KHCN là một trong các khoản chi có tính chất thường xuyên của chính quyền các cấp. Qua đó luận văn xác định: Chi ngân sách nhà nước cho phát triển e 11 KHCN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu sử dụng kinh phí cho sự nghiệp KHCN nhằm mục tiêu gia tăng về lượng và biến đổi về chất trong các lĩnh vực KHCN. Là một nội dung chi thuộc nhóm chi thường xuyên của NSNN, do đó chi ngân sách cho phát triển KHCN có những Đặc điểm sau: - Các khoản chi này mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm, đặc biệt là các khoản chi cho con người.
Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ tổng mức chi và tỷ trọng chi ngân sách cho phát triển KHCN trong tổng chi NSNN, nội dung và cơ cấu chi ngân sách cho phát triển KHCN ít có sự biến động lớn qua các năm. - Các khoản chi có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Biểu hiện của đặc điểm này chính là các khoản chi ngân sách cho phát triển KHCN thường được cấp phát và sử dụng trong từng năm ngân sách, kết quả của các khoản chi này không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nhằm thoả mãn nhu cầu công cộng. Vai trò của chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ - Chi ngân sách cho phát triển KHCN luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để duy trì, định hướng sự phát triển của KHCN theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
KHCN là một lĩnh vực mà Nhà nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng. Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu tư của NSNN cho phát triển KHCN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cho thường xuyên NSNN các cấp hàng năm. Thực tế cho thấy, việc đầu tư cho KHCN đúng mức sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh chóng. Đầu tư cho KHCN không chỉ là một chính sách kinh tế mà còn được coi là một chính sách xã hội.
- Chi ngân sách cho phát triển KHCN là khoản chi có vai trò quan trọng đối với KTXH của một quốc gia, một địa phương. Việc đầu tư cho KHCN là một trong những điểm cơ bản để các nước nghèo vươn mình trở thành các e 12 nước có nền kinh tế phát triển. KHCN là chính sách cốt lõi trong việc phát triển nền kinh tế tri thức. Mỗi phát minh, sáng chế đều mang lại giá trị kinh tế, xã hội cao.
Từ các mặt hàng điện tử, ô tô, vật liệu mới, đến công nghệ sinh học, gen,. đều là những bước tiến của KHCN vào cuộc sống và mang lại những lợi nhuận khổng lồ cho con người. KHCN là loại mặt hàng khi bán vẫn không mất đi và khi mua chỉ được quyền sử dụng. Trong khi để có được sản phẩm tiêu dùng, các nước nghèo phải bán đứt khoáng sản, sức lao động giản đơn, đất đai và thậm chỉ là quyền tự chủ, sáng tạo,.
mà không giữ lại cho đất nước mình bất cứ thứ gì. Vì vậy, đối với một đất nước chưa thực sự phát triển như Việt Nam thì việc Nhà nước chi ngân sách cho phát triển KHCN là vô cùng cần thiết không những cho hiện tại và cả trong tương lai. Nội dung chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học công nghệ Nội dung chi sự nghiệp khoa học và công nghệ được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định về đầu tư và cơ chế tài chính hoạt động KHCN như sau (Chính phủ, 2014): - Chi thực hiện các nhiệm vụ KHCN, bao gồm chi trực tiếp cho các nhiệm vụ KHCN và chi cho các hoạt động quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với nhiệm vụ KHCN, chi tổ chức đánh giá sau nghiệm thu đối với các nhiệm vụ KHCN. - Chi thường xuyên và các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức KHCN công lập theo quy định pháp luật về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN công lập.
- Cấp vốn điều lệ và vốn bổ sung cho các quỹ quốc gia của Nhà nước trong lĩnh vực KHCN. - Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ nghiên cứu về KHCN ở trong nước và nước ngoài. - Mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; mua công e 13 nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ; hỗ trợ chuyển giao và nhập khẩu công nghệ. - Thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn trong nước và nước ngoài.
- Xúc tiến ứng dụng tiến bộ KHCN.