CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Khái niệm và vai trò của vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Theo Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2014, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà thầu bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”.
[20] “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. [20] “Đầu tư là đem một khoản tiền của đã tích lũy được, sử dụng vào một việc nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền của có giá trị lớn hớn”. [11] “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai”. [17] Vậy là mặc dù các khái niệm trên có diễn giải khác nhau nhưng chúng cùng thống nhất rằng: đầu tư là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhất định, hi vọng thu được những kết quả và đạt được những mục đích nhất định trong tương lai.
Đầu tư XDCB là một hình thức đầu tư nói chung. Hoạt động đầu tư cơ bản bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB. Trong đó, mục đích bỏ vốn được xác định và giới hạn trong phạm vi tạo ra những sản phẩm cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế - xã hội như: các nhà máy, đường giao thông, hồ đập thủy lợi, trường học, bện viện,… XDCB là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB, là các hoạt động cụ thể tạo ra TSCĐ (khảo sát thiết kế, xây dựng, lắp đặt,…). Kết quả của hoạt động XDCB là các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định.
Như vậy, XDCB là một 13 quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch các TSCĐ của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất. Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia. Đầu tư XDCB đóng vai trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán chuẩn xác, quản lý một cách chặt chẽ, nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn của đất nước.
Như vậy, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất, bao gồm: - Đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, trong quá trình đầu tư, chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. - Đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều thời gian với nhiều biến động xảy ra.
Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian như giá cả, lạm phát, lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư XDCB. - Sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối của điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết, … của nơi đầu tư xây dựng công trình. Nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Sản phẩm XDCB chủ yếu được sản 14 xuất theo đơn đặt hàng, do đó, quản lý vốn đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình. - Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng, phụ thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết,… của nơi đầu tư xây dựng công trình. Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô, kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công,… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy, quản lý NSNN trong đầu tư XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư.
- Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, văn hóa, y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. - Đầu tư XDCB thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công,.
nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình. Những đặc điểm của đầu tư XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư XDCB, đòi hỏi phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý NSNN trong đầu tư XDCB cần phải có những nguyên tắc nhất định; biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý NSNN nói chung và phải được áp dụng phù hợp với đặc điểm của nơi đầu tư XDCB. Khái niệm và đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư XDCB là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của TSCĐ trong nền kinh tế. “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất mới của TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán”. [1] Vốn đầu tư XDCB được hình thành từ các nguồn sau: - Vốn NSNN: vốn NSNN được hình thành từ việc tích lũy của nền kinh tế và được Nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cấp cho chủ đầu tư thực hiện các công trình theo kế hoạch hàng năm. - Vốn tín dụng đầu tư bao gồm vốn của NSNN dùng để cho vay, vốn huy động của các đơn vị trong nước và các tầng lớp dân cư, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… - Vốn tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế.
Đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn này được hình thành từ lợi nhuận sau khi nộp thuế cho Nhà nước, vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà nước. - Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài: vốn này được các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bằng bất cứ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Vốn vay nước ngoài bao gồm vốn do chính phủ vay theo hiệp định ký kết với nước ngoài, vốn do các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ trực tiếp vay từ các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do ngân hàng đầu tư phát triển đi vay. 16 - Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (ODA) - Vốn huy động của dân cư bằng tiền, vật liệu hoặc công cụ lao động Trong các nguồn vốn trên, nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN là nguồn vốn chủ yếu được dành cho đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà vì lợi ích kinh tế- xã hội lâu dài.
Đó là các công trình, dự án cơ sở hạ tầng như đường giao thông, đường điện, trường học, bệnh viện, hệ thống thuỷ lợi, đê, cảng biển; các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ; các công trình, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế xã hội; các công trình, dự án văn hoá xã hội, công cộng; các công trình dự án an ninh, quốc phòng, .