Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ KHÁI QUÁT VỀ TUỒNG QUẢNG NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Di sản văn hóa và Bảo tồn di sản văn hóa Nếu văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nhằm vươn tới cái chân - thiện - mỹ thì có thể hiểu di sản văn hóa là kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông đã để lại cho các thế hệ con cháu.
Theo từ điển tiếng Việt, “di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại” [59, tr. Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001 quy định: Di sản văn hóa: “Là sản phẩm văn hóa, tinh thần, vật chất của xã hội loài người và các di vật tiêu biểu, vật mẫu của giới tự nhiên có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [33]. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2009 quy định: Di sản văn hóa vật thể: “Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc” [35, tr. Di sản văn hóa phi vật thể: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [35, tr.
10 Vậy thế nào là bảo tồn di sản văn hóa? Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Theo Từ điển tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [59; 165]. Việc bảo tồn di sản văn hóa cần đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống. Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại.
Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Khái niệm quản lý và quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung thì đều xuất hiện quản lý. Quản lý chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển của quốc gia và các tổ chức. Do vậy quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội.
Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia thì: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý" [24, tr. Cũng theo giáo trình này, hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Khách thể quản lý; Mục tiêu của quản lý. Có thể hiểu, quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để đạt được hiệu quả đề ra. Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật là quản lý định hướng, hoạch định, kế hoạch, tổ chức, điều hành các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật.
Các hoạt động đó do chính con người thực hiện với các phương tiện, công nghệ hỗ trợ để Hoàn thành tốt kế hoạch chiến lược, chiến thuật nghệ thuật đề ra. Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng chính là quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên tổ chức, hành chính (kế toán, thủ quỹ, lái xe, hậu đài…), nghệ sĩ (đạo diễn, tác giả, diễn viên, nhạc công,…) của đơn vị nghệ thuật, 11 nhằm phát huy những tiềm năng nghệ thuật của con người trong tổ chức biểu diễn nghệ thuật nơi đây, bao gồm thể lực và trí lực (đặc biệt là khả năng sáng tạo nghệ thuật) phù hợp. Khái niệm Câu lạc bộ và tổ chức hoạt động câu lạc bộ Có thể thấy nội dung định nghĩa về câu lạc bộ rất rộng và đa dạng. Theo Từ điển tiếng Việt thì “CLB là tổ chức được lập ra cho nhóm người hoặc nhiều người cùng sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí”[59].
Ban đầu, các Câu lạc bộ hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện của những người cùng sở thích, cùng niềm đam mê. Tuy nhiên, trong mỗi một câu lạc bộ đều phải có những thành viên đứng đầu, phụ trách quản lý giám sát mọi hoạt động. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi xin được dùng khái niệm về câu lạc bộ như sau: Câu lạc bộ dùng để chỉ một tập hợp quần chúng có chung đặc điểm về sở thích, nhu cầu và tổ chức sinh hoạt nhằm thỏa mãn những nhu cầu và sở thích đó với nội dung sinh hoạt liên quan ở nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, chính trị xã hội,. Thành viên Câu lạc bộ có nhiều nghề nghiệp và lứa tuổi cũng khác nhau, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện.
Có thành lập tổ chức và mục đích hoạt động rõ ràng nhằm đem lại những lợi ích thiết thực cho tất cả hội viên và cho xã hội. Vậy, thế nào là tổ chức hoạt động CLB? Việc tổ chức hoạt động câu lạc bộ có thể khái quát bao gồm 2 vấn đề cơ bản là nội dung hoạt động và phương thức tổ chức hoạt động. Mỗi một câu lạc bộ tùy vào tính chất sẽ có những nội dung hoạt động khác nhau. Nội dung hoạt động được coi là xương sống của một câu lạc bộ.
Câu lạc bộ có hoạt động theo đúng hướng hay không cần phải có nội dung hoạt động phù hợp, sát thực với đối tượng và đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương, cơ quan đoàn thể nào đó. Tuy nhiên, các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ không nên dập khuôn, thu hẹp trong không gian, thời 12 gian, phạm vi hoặc đối tượng nhất định mà cần được mở rộng, nâng cấp, cập nhật bổ sung kịp thời, liên tục, tránh nhàm chán. Về cách thức tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ, để thu hút số lượng hội viên tham gia Câu lạc bộ, giúp cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức trong Câu lạc bộ có hiệu quả thì phương thức tổ chức sinh hoạt của Câu lạc bộ cần đa dạng, phong phú và hấp dẫn Như vậy, từ khái niệm tổ chức hoạt động CLB có thể hiểu việc quản lý hoạt động CLB Tuồng là quản lý định hướng, hoạch định, kế hoạch, tổ chức, điều hành các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật Tuồng nhằm phát huy những tiền năng nghệ thuật Tuồng nơi đây. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật thông qua công tác xây dựng thể chế, chính sách, văn bản pháp quy 1.
Luật Di sản văn hóa Điều 17: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Điều 23: Nhà nước có chính sách khuyến khích việc sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lưu truyền trong nước và giao lưu văn hóa với nước ngoài. Điều 24: Nhà nước có chính sách khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng dụng những tri thức về y, dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác. 13 Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.
Điều 17, Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ năm 2010 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010. Theo đó, 7 hình thức biểu hiện của DSVHPVT bao gồm: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian. Trong đó có nghệ thuật trình diễn dân gian với một số chính sách sau đây.
Chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 1. Xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu bảo tồn các di sản văn hóa tiêu biểu. Khen thưởng tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xét tặng danh hiệu vinh dự nhà nước và thực hiện các chính sách ưu đãi về tinh thần và vật chất đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt. Tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương. Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ. Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài. Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ.
Chính sách đãi ngộ đối với Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú 1.