Chương 1: Cơ sở lý luận và thực ti n về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại cơ quan quản lý thuế cấp huyện. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế khu vực Đồng H -V Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế khu vực Đồng H -V Nhai, tỉnh Thái Nguyên. 13 Chƣơ g 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH C TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠ Ơ QU N QUẢN LÝ THUẾ CẤP HUYỆN 1.
Khái ni m c iểm v v i tr c thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là sắc thuế có lịch sử lâu đời và được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, m c dù vậy chính sách thuế TNCN của mỗi quốc gia lại có những điểm đ c thù riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng nước. Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên giải thích danh từ thu nhập là “các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định tính theo tháng năm”, khái niệm này được đưa ra khá chung chung, chưa đề cập đến các chi phí, khoản không tính vào thu nhập nhận được cuối cùng. Bên cạnh đó, cũng trong cuốn Từ điển này động từ thu nhập có nghĩa là “nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó” 10, 984], định nghĩa này tuy đã chỉ ra r hơn nhưng vẫn chưa thực sự bao quát được đầy đủ tất cả các trường hợp vì có những loại thu nhập phát sinh không phải do họ thực hiện “một hoạt động nào đó” mà được người khác biếu, t ng ho c được thừa kế, trúng thưởng.
Những khoản thu nhập này tuy không mang tính chất thường xuyên nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng.Samuelson - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: “Thu nhập là tổng số tiền kiếm được ho c thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định”. Đây là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động ho c không từ lao động, từ quyền sở hữu về tài sản mà có ho c tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán [2, 33]. 14 Với cách tiếp cận của hai nhà kinh tế người Anh là R. Simons đưa ra từ đầu thế k XX thì: Thu nhập của một cá nhân được xem là sự gia tăng về sức mua ròng của cá nhân đó trong một giai đoạn nhất định.
Nói cách khác, đó là “tổng chi cho tiêu dùng” cộng với “sự gia tăng ròng về mức độ giàu có” của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Ở đây TNCN được gọi là “thu nhập toàn diện” và thường bao quát tất cả các loại hình thu nhập mà một cá nhân nhận được dưới nhiều hình thức khác nhau. Khái niệm này thể hiện được bản chất của thu nhập, đó là phần giá trị tăng thêm thực tế của từng cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định [12]. Từ những nhận định trên có thể thấy rằng, thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau như: kinh doanh, tiền lương, đầu tư, chuyển nhượng, trúng thưởng, nhận quà biếu, nhận thừa kế.
Tuy nhiên, không phải tất cả thu nhập từ các nguồn của cá nhân đều là thu nhập tính thuế, thu nhập tính thuế được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nhận được sau đó trừ đi những chi phí hợp lý và các khoản được giảm trừ. Ngoài ra, do nguồn phát sinh của TNCN rất đa dạng nên chủ thể nhận được thu nhập cũng vô cùng phong phú bao gồm: cá nhân kinh doanh; người lao động; các nhà đầu tư; người được nhận thừa kế, quà t ng; cá nhân trúng thưởng… Theo PGS. Nguy n Thị Liên và PGS. Nguy n Văn Hiệu thì thuế TNCN được hiểu là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế [4, 221].
Trong cuốn Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, tác giả Lê Văn Ái nhận định: Thuế TNCN là khoản thu bắt buộc đánh trên thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật [6, 12]. Tác giả Huỳnh Văn Diện cho rằng thuế TNCN là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước” 2, 33-34]. 15 Theo quan điểm của nhóm tác giả Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng ho c từng lần [9, 214]. Trong tất cả những quan điểm, nhận định nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm của các nhà khoa học pháp lý đưa ra trong Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, bởi nó chỉ r đ c điểm thuế TNCN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNCN là ai, đối tượng phải chịu loại thuế này là gì và trong những kì tính thuế nào.
Có thể thấy, nhận định về thuế TNCN này tương đối ngắn gọn, cụ thể nhưng vẫn có sự bao quát và đề cập đầy đủ các nội dung có liên quan. Tóm lại, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân + Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.
+ Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. + Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức kh e…).
+ Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. + Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh 16 trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao.
+ Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. + Khi tính toán thuế thu nhập cá nhân thì thường phải xét đến hoàn cảnh của mỗi cá nhân và luôn kết hợp với chính sách xã hội. + Thuế thu nhập cá nhân tăng hay giảm không ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được.
a/ Đối với nền kinh tế - xã hội - Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thu nhập cá nhân là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần. Thuế thu nhập cá nhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người.
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội Thực hiện công bằng xã hội là một trong nhưng vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội. 17 - Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một m t tác động trực tiếp đến tiết kiệm, m t khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất. - Góp phần phát hiện thu nhập của dân cư Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp ho c bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân.
Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn ch n và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn ch n đó thì phải kể đến vai trò của thuế thu nhập cá nhân. b/ Đối với hệ thống thuế - Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đ c biệt đều có nhược điểm là có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp lũy tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này.