Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính trong các doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH phát triển Hương Việt Chương 4: Định hướng và Giải pháp để hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty TNHH phát triển Hương Việt. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁCDOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và các hoạt động khác nhau trong đời sống xã hội. Bản chất của công tác quản lí là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý nhằm tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả mong muốn của các nhà quản lý. Quản lý bao gồm nhiều phương diện như quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý kế hoạch, quản lý công nghệ, … QLTC là việc lập nên kế hoạch thu chi, tổ chức thực hiện kế hoạch và giám sát được các hoạt động thu chi, các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. QLTC là đòi hỏi các chủ thể quản lý phải lựa chọn đưa ra các quyết định tài chính và phải tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động QLTC của đơn vị.
QLTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc quản lý doanh nghiệp. Thực tiễn hoạt động SXKD cho thấy, không có bất kỳ một DN nào thành công nếu công tác QLTC yếu kém, lỏng lẻo. Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, trong tất cả các khâu thuộc lĩnh vực QLTC như: triển khai thực hiện tốt các dự án SXKD; lập kế hoạch và sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những nội dung quan trọng tạo nên thành công của doanh nghiệp. Theo Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể từ tháng 1 đến hết tháng 7 năm 2018 là 7.714 doanh nghiệp, tăng 16,7% so với cùng kỳ.
Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực 4 z bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, xe máy (tăng 19,8%); công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 26,2%); xây dựng (tăng 6,9%). Trích từ tờ báo Kinh tế và đô thị ngày 30/7/2018. Trên thế giới, cụ thể như nước Mỹ là một trong những có nền kinh tế phát triển mạnh nhất nhưng cũng xảy ra rất nhiều vụ bê bối tài chính dẫn tới sự sụp đổ như: Ngân hàng Lehman Brothers, Washington Mutual, Enron …. Việt Nam trong những năm gần đây cũng có những tập đoàn lớn chao đảo tài chính như Ngân hàng ACB, Công ty cổ phần vận tải biển và bất động sản Việt Hải VSP … Sự sụp đổ này phần lớn là do gặp phải vấn đề về quản lý tài chính trong công ty.
Thị trường kinh doanh đang theo cơ chế thị trường, quá trình sàng lọc và cạnh tranh với nhau giữa các Doanh nghiệp là điều tất yếu xảy ra. Để phát triển thắng lợi trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, tăng doanh thu và phát triển thị trường. Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lợi nhuận tốt nhưng việc quản lý tài chính trong doanh nghiệp mới là điều cần thiết hơn cả bởi vì có lợi nhuận nhưng Doanh nghiệp phải biết vận dụng, quản lý làm sao để sinh ra lợi nhuận. Vì vậy mà, ngày nay tất cả các DN đều phải đặc biệt quan tâm đến công tác QLTC của doanh nghiệp mình.
Quản lý tốt tài chính của Doanh nghiệp chính là chìa khóa dẫn đến sự tồn tại và phát triển công ty. Sự sống còn của doanh nghiệp được quan tâm rất nhiều và được chú trọng nghiên cứu bởi nhiều cấp, nhiều bộ, nhiều ngành, nhiều tác giả, và dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể về những Thông tư, nghị định, quyết định, chế độ như sau: Bộ Tài chính, (năm 2000), Chế độ mới quản lý tài chính doanh nghiệp của Nhà xuất bản Tài chính tại Hà Nội. Bộ Tài chính, (năm 2001), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước của Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
Bộ Tài chính, (năm 2003), Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, Hà Nội. Bộ Tài chính, (năm 2007), Bộ thương mại, (năm 2003). Cơ chế kinh doanh trong tình hình mới 5 z của Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội. Chính phủ, (năm 2004), Nghị định 191/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý sử dụng vốn tài sản tại doanh nghiệp, Hà Nội.
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thông tư 78/2014/TT - BTC (năm 2014), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội), Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành và công bố theo TT161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính, Hà Nội. Bộ Tài chính, (năm 2013), TT45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định của Bộ Trưởng Bộ Tài chính, Hà Nội. Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp. - Tạ Minh Hùng, (năm 2006), Quản lý tài chính của Công ty Thăng Long-GMT trong điều kiện hiện nay, thực trạng và giải pháp đổi mới, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đỗ Thị Huyền Như, (năm 2008), Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. - Trịnh Thị Vân Anh, (năm 2012), Công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây lắp điện I, luận văn thạc sĩ Kinh tế của trường Đại học Thương mại Hà Nội. Một số luận văn khác có thể kể đến: Luận văn Ngô Thắng Lợi, (năm 2004), DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia. Nguyễn Khánh Toàn, (năm 2008), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không Miền Bắc, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế của Trường Đại học Xây dựng, Hà Nội.
Luận văn những năm gần đây như: Phan Thị Hoa (năm 2014), Quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex, Trường đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn cũng trình bày rất chi tiết cơ sở lý luận 6 z chung, phân tích thực trạng quản lý tài chính tại công ty và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty. Ưu điểm: + Những luận văn này trình bày lý thuyết chung nhiều. + Những luận văn này đều nghiên cứu về những doanh nghiệp có quy mô lớn là các công ty cổ phần của nhà nước.
Nhược điểm: + Các luận văn trên viết về những doanh nghiệp của các thành viên trong các tập đoàn lớn nên đã chưa chỉ ra được giải pháp của những doanh nghiệp vừa và nhỏ cần. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài quản lý tài chính tại Công ty TNHH phát triển Hương Việt. Hơn nữa Công ty TNHH phát triển Hương Việt cũng là doanh nghiệp được xếp vào loại vừa và nhỏ. Vậy nên, đề tài này có ý nghĩa thiết thực, và vận dụng được đối với Công ty TNHH phát triển Hương Việt nói riêng và các doanh nghiệp có cùng mô hình kinh doanh xếp vào loại vừa và nhỏ nói chung.
Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp 1. Các khái niệm về tài chính Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính Việt Nam, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. Tài chính doanh nghiệp là 1 khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường, là 1 phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của tài chính doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
(theo nguồn: Quan tri.vn) 7 z Trong cuốn “An ninh tài chính Doanh nghiệp Nhà Nước trong điều kiện chủ động hội nhập kinh tế Quốc Tế của tác giả Tào Hữu Phùng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội có viết về quan niệm Tài chính doanh nghiệp như sau: Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Trên bình diện xã hội, tài chính doanh nghiệp biểu hiện là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu: Tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối tạo lập và doanh nghiệp sử dụng các quỹ tiền tệ (như tiền mặt, tiền ngân hàng, tiền ngoại tệ…) trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu cụ thể hay mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đã đặt ra. Chức năng của Tài chính doanh nghiệp.
Thứ nhất: Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn: Một doanh nghiệp muốn sản xuất được cần phải có vốn và có quyền được sử dụng vốn của mình một cách chủ động trong mọi hoạt động. Vốn là yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu trong mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp do các cá nhân tự đứng lên thì chủ yếu là do nguồn vốn tự nộp của chủ sở hữu đó. Thông qua vốn đó doanh nghiệp phải đầu tư hiệu quả đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thứ hai: Chức năng phân phối: Sau khi sử dụng nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp sẽ đạt được kết quả là tiêu thụ sản phầm hàng hóa Doanh nghiệp tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn thu được sẽ phân phối cho các chi phí: khấu hao máy móc, nộp thuế, chi phí vay ngân hàng, giao dịch…. Thứ ba: Chức năng giám đốc (kiểm tra): đó là khả năng khách quan để sử dụng tiền tệ làm công cụ kiểm tra.