Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC CNTT TRONG NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan các công trình có liên quan Nhân lực và phát triển nhân lực là đề tài đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình dƣới nhiều giác độ: Ở tầm vĩ mô, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nhƣ: - Luận án Tiến sỹ kinh tế“Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” của Phan Thanh Tâm (2000), Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đi sâu phân tích thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực Việt Nam từ năm 1989-1999; từđóđềxuấtmộtsốnhómgiảiphápnhằmnângcaochấtlƣợngnguồnnhânlựcphụcvụsự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Luận án Tiến sỹ kinh tế“Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa họccôngnghệphụcvụsựnghiệpcôngnghiệphóa,hiệnđạihóa”củaPhạmVănQuý,năm 2005, Viện kinh tế Việt Nam đã phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở nƣớc ta và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học công nghệ để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Luận án Tiến sĩ ngành Kinh tế chính trị“Phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam”củaLê Thị Hồng Điệp, năm 2009,Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nộiđánh giá quá trình phát triển nguồn nhân lựcchất lƣợng caođể hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam từ năm 2001-2009. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu kể trên đã xem xét vấn đề phát triển nguồn nhân lực gắn với bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớcvà quá trình hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. 4 Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển nhân lực trong một số lĩnh vực cụ thể nhƣ: - “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực phát thanh-truyền hình ởViệt Nam: Thực trạng và giải pháp” của Kim Ngọc Anh, luận văn thạc sĩ, năm 2005, Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội đã tập trung nghiên cứu tình hình phát triển nguồn nhân lực của một lĩnh vực cụ thể, đó là lĩnh vực phát thanh truyền hình, đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này.
- Luậnvănthạcsĩ“PháttriểnnguồnnhânlựcThôngtin-Thƣviệncủamạnglƣớicác trƣờng đại học tại Hà Nội” của Nguyễn Thanh Trà, năm 2010, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Tác giả đã nghiên cứu và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong hoạt động thông tin thƣ viện tại các trƣờng đại học trên địa bànthành phố Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành Thông tin-Thƣ viện cả về số lƣợng và chất lƣợng trên địa bàn thành phố. Trong lĩnh vựcCNTT, đề tài nhân lực đã đƣợc một số tác giảquan tâmnghiên cứu: - “Phát triển nguồn nhân lực CNTTở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”,năm 2010của ThS.NguyễnThịThanhLiên,TạpchíPháttriểnkinhtế.Bàiviếtđãkháiquátthựctrạngsố lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu và việc đào tạo, sử dụngnguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam đến thời điểm năm 2010.Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam.
- Luận văn Thạcsĩ“Đào tạo nguồn nhân lựcCNTTở Việt Nam”của Đỗ Thị Ngọc Ánh, năm 2008, Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nộiđã phân tích thực trạng nhu cầu nhân lực và thực trạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam thời gian qua, tập trung trong giai đoạn 1997-2007vànhững vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếuđểthúc đẩy đào tạo nguồn nhân lựcCNTTtrong thời gian tới. 5 Các tác giả trên đã có những nghiên cứu khái quát vềphát triển nguồn nhân lực CNTT hoặc nghiên cứu một mảng cụ thể là đào tạo nhân lực CNTT ở Việt Nam. Trong lĩnh vực ngân hàng, nhận thức rõ tầm quan trọng của yếu tố con ngƣờiđối với sự phát triển của ngành,từ đầu những năm 90 đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học bàn về vấn đềnhân lực, nhƣ đề tài: “Nhu cầu nhân lực của ngành ngân hàng Việt Nam thời điểm đầuthếkỷXXI”,TS.LêĐìnhThulàmchủnhiệm;“Giảiphápđápứngnhucầupháttriển nguồn nhân lực Ngân hàng Việt Nam thời điểm đầu thế kỷ XXI”, TS.
Phạm Thanh Bình làm chủ nhiệm.Các đề tài tập trung nghiên cứu phân tích đánh giá và dự báo xu hƣớng sử dụng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam,tuy nhiên mới chỉchú trọngđếnnhân lực của khối ngân hàng thƣơng mại, ít đề cập đến nhân lực của NH. Từ năm 2000 trở lại đây những vấn đề bất cập của nhân lực NH đã gợi mở cho nhiều công trình nghiên cứu.Tiêu biểu phải kể đếnLuận văn thạc sĩkinh tế“Phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”của tác giả Dƣơng Thị Kim Chung, năm 2005 đã tập trung đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực củaNHViệt Nam và đề xuất nhữnggiải pháp phát triển nguồn nhân lực của tổ chức này nhằm đáp ứng các yêu cầu mới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Các công trình trên đã nghiên cứu về tổng thểnhân lực của cả hệ thống ngân hàng trên giác độ quản trị nhân lực và đào tạo phát triển.2 Nhận xét chung về các công trình và khoảng trống cần nghiên cứu tiếp Các công trình trên đã nghiên cứu về tổng thể nhân lực của cả hệ thống ngân hàng trên giác độ quản trị nhân lực và đào tạo phát triển. Cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển nhân lựcCNTT tại Ngân hàng Techcombank, nhất là trong những năm gần đây, với sự tác động ngày càng rõ rệt và sâu rộng của CNTT lên lĩnh vực tài chính, gây ảnh hƣởng lớn tới hoạt động của Ngân hàng nói chung và về vấn đề quản lý nhân sự nói riêng.
Từ thực trạng đó, 6 học viênmong muốn thực hiện luận văn để tìm hiểu, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp để giải quyết các vấn đề đang gặp phải trong hoạt động phát triển nhân lực CNTT tại Ngân hàng Techcombank dƣới góc độ quản lý kinh tế.1 Sự phát triển của NHTM đòi hỏi sự phát triển CNTT 1. Sự phát triển của NHTM đòi hỏi sự phát triển CNTT Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nói chung, các NHTM nói riêng, các mảng hoạt động quan trọng đều gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với ngành ngân hàng để phát triển bền vững và có hiệu quả cao. Đầu tƣ về công nghệ của ngân hàng có thể chia thành 2 loại chƣơng trình lớn nhƣ sau: Thứ nhất là đầu tƣ vào nền tảng và kiến trúc hệ thống công nghệ để đảm bảo một kiến trúc công nghệ tiên tiến nhất, có hiệu năng và độ mở rộng cao cũng nhƣ an toàn về bảo mật thông tin, đảm bảo có thể hỗ trợ mức độ tăng trƣởng kinh doanh cao trong nhiều năm. Thứ hai là những chƣơng trình đầu tƣ vào công nghệ mới để đƣa ra các sản phẩm, dịch vụ ƣu việt.
Về mặt dịch vụ, triển khai hàng loạt các dự án tự động hóa các hoạt động kinh doanh cốt lõi nhƣ phê duyệt tín dụng, phát hành và thanh toán LC, chuyển tiền và kiều hôi… nhằm rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên và giảm thiểu rủi ro trong họat động. Trong những năm gần đây, sự cạnh tranh về chất lƣợng dịch vụ cũng nhƣ những tiện ích với tốc độ xử lý nhanh hơn, tốt hơn trở nên rất gắt gao giữa các ngân hàng. Cùng với đó, việc các ngân hàng nƣớc ngoài lớn nhƣ: Standard Chartered, ANZ,. với uy tín, kinh nghiệm cùng những nền tàng công nghệ hiện đại khiến cho các ngân hàng nội địa không thể "ung dung" nhƣ trƣớc.
Vì thế, để nâng cao chất lƣợng dịch vụ, cũng nhƣ để khẳng định đƣợc vị thế của mình, các ngân hàng đang dần có một cái nhìn nghiêm túc hơn về việc đầu tƣ cho các giải pháp CNTT. 7 Mặc dù nguồn lực dành cho nghiên cứu, cũng nhƣ đầu tƣ phát triển giải pháp CNTT đã đƣợc quan tâm hơn, tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng đề ra đƣợc mục tiêu tổng thể phát triển và đƣa ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ. Những lý do nhƣ: ngân quỹ dành cho các giải pháp CNTT có giới hạn, chiến lƣợc chƣa tối ƣu để khai thác hết tiềm năng của các yếu tố CNTT, khả năng ứng dụng CNTT của nhân viên còn hạn chế. đã khiến cho các giải pháp CNTT chƣa phát huy hết tính năng của mình.
Một kết quả kháo sát gần đây của KPMG cho thấy, chi phí hoạt động của các NHTM Việt Nam ở mức khá cao: trên 50% của tổng thu nhập, so với 44% của Thái Lan, 40% của Trung Quốc hay 38% của Singapore. Và theo xu hƣớng tất yếu, các giải pháp công nghệ thông minh nhằm giảm thiểu tối đa chi phí vận hành cũng nhƣ tăng hiệu quả hoạt động đã đƣợc các ngân hàng tìm đến. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực CNTT CNTT là công cụ, là phƣơng tiện góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng nói riêng và nền kinh tế các quốc gia nói chung trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Để có thể ứng dụng thành công, tận dụng các cơ hội mà CNTT mang lại, yêu cầu đặt ra là cần chuẩn bị tốt nguồn nhân lực.
Các yêu cầu mà đội ngũ nhân lực CNTT cần đáp ứng, đó là: - Nhân lực CNTT phải là lực lƣợng lao động có đạo đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với công việc. Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốnđóng góp tài năng, công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc. Đây đƣợc coi là tiêu chí nền tảng trong xây dựng những tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lƣợng cao nói chung và nhân lực CNTT nói riêng. - Nguồn nhân lực CNTT cần có tri thức chuyên sâu ở lĩnh vực chuyên trách và có kiến thức rộng về lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
CNTT là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức. Do đó, nhân lực CNTT, dù đó là ngƣời thực hiện hay ngƣời quản lý, đều là những đối tƣợng lao động có hàm lƣợng tri thức cao.