phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 03 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về XDNTM. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về XDNTM trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về XDNTM trên địa bàn huyện Phong Thổ - Lai Châu giai đoạn 2018 - 2020 định hƣớng đến năm 2030. 6 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Một số khái niệm liên quan. Khái niệm về quản lý. Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản lý, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau nhƣ: Kinh tế học, hành chính học, luật học, điều khiển học, xã hội học…đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tƣợng nghiên cứu của mình. Có thể đƣa ra một số giải thích sau: - Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tƣơng ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của ngƣời quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích đã định trƣớc.
Theo khái niệm này, quản lý đƣợc hiểu theo góc độ hành động, góc độ quy trình của tác động (quản lý là điều khiển) - Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn, các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để hƣớng đến mục đích, đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đƣợc những mục đích của tổ chức. Hoặc đơn giản hơn nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó. Mục đích của quản lý là điều khiển, chỉ đạo chung con ngƣời, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hƣớng hoạt động chung đó theo những mục tiêu định trƣớc.
Nhƣ vậy, ta có thể hiểu thuật ngữ quản lý: “Là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản 7 e lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Khái niệm về quản lý nhà nước Thuật ngữ “quản lý nhà nƣớc” có nhiều cách hiểu khác nhau: - Quản lý nhà nƣớc là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nƣớc để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội theo những mục tiêu đã định. - Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nƣớc để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời. - Quản lý nhà nƣớc là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nƣớc; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nƣớc có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nƣớc do tất cả các cơ quan nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp, tƣ pháp) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nƣớc giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Nhƣ vậy, thông qua những điểm chung của các khái niệm, một cách chung nhất, ta có thể hiểu: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước”. Khái niệm nông thôn Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì nông thôn là: "phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài 8 e lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp" Đến nay, khái niệm nông thôn đƣợc thống nhất với quy định tại Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Đặc điểm của các vùng nông thôn nƣớc ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp của đại đa số dân cƣ.
Bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phƣơng diện kinh tế - xã hội. Khái niệm về nông thôn mới Khái niệm về nông thôn mới có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhƣng đa số thống nhất khi khẳng định NTM phải có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa các dân tộc đƣợc gìn giữ. Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đƣa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng”. Nhƣ vậy, nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao; bản 9 e sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Khái niệm xây dựng nông thôn mới Thuật ngữ XDNTM đã xuất hiện trong các Văn kiện của Đảng ta bắt đầu từ Đại hội IV, (21/1976), sau mỗi giai đoạn phát triển của đất nƣớc thì nội hàm của xây dựng NTM lại có những thay đổi. Trong văn kiện Đại hội IV của Đảng, XDNTM đƣợc xem là một nhiệm vụ gắn kết chặt chẽ với phát triển nông nghiệp, tuy nhiên, nhiệm vụ này chỉ bó hẹp trong ý nghĩa quy hoạch lại, sắp xếp lại khu vực cƣ trú, khu vực sản xuất và khu vực sinh hoạt văn hóa.
Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng (khoá VII) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, ngày 10/6/1993 xác định: Xây dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống văn hoá phong phú, lành mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng đƣợc những nhu cầu cơ bản của nông dân, có hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội; tăng cƣờng đoàn kết và ổn định chính trị trong nông thôn, giữ vững trật tự xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh. Đến Đại hội X của Đảng xác định về thực hiện chƣơng trình xây dựng nông thôn mới là: Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trƣờng lành mạnh. Hình thành các khu dân cƣ đô thị hoá với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ nhƣ: thuỷ lợi, giao thông, điện, nƣớc sạch, cụm công nghiệp, trƣờng học, trạm y tế, bƣu điện, chợ. Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Quan điểm này có thể đƣợc xem là cơ sở để xây dựng Nghị quyết số 26-NQ/TW về “tam nông” và CTMTQG XDNTM. Nghị quyết này 10 e đã đƣa ra quan điểm khá toàn diện về mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nhƣ vậy khái niệm xây dựng nông thôn mới có thể hiểu: là việc giải quyết các vấn đề “tam nông” nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong một bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa đặc th , là quá tr nh xây dựng các h nh thái làng xã khác nhau trong nh ng thời điểm lịch sử khác nhau và tại các khu vực khác nhau, mang đặc tính thời đại và ý ngh a thực tế riêng. Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới Từ khái niệm “Quản lý nhà nƣớc” và khái niệm về “nông thôn mới”, có thể đƣa ra khái niệm quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới nhƣ sau: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới chính là việc các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến các địa phương thực hiện quyền lực nhà nước của m nh tác động vào khu vực nông thôn, nhằm giải quyết tốt các vấn đề về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền v ng theo hướng kinh tế hàng hóa; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị v ng mạnh và được tăng cường; an ninh trật tự được gi v ng; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Công tác quản lý nhà nƣớc trong quá trình xây dựng nông thôn mới phải xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện.