CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm + Khái niệm quản lý: Quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên khái niệm quản lý được nhiều người sử dụng nhất là: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Phải có một chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý, phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Chủ thể phải thực hành việc tác động. - Phải có một mục tiêu cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. + Khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.
Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. e 13 + Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế. Theo nghĩa hẹp, ngành nông nghiệp gồm có hai tiểu ngành là trồng trọt và chăn nuôi.
Theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp gồm có các ngành là nông nghiệp theo nghĩa hẹp (gồm trồng trọt và chăn nuôi ), lâm nghiệp và ngư nghiệp. Sản xuất nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. + Khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp: Trong lĩnh vực nông nghiệp, khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp có nhiều cách diễn đạt khác nhau, tùy theo từng giác độ nghiên cứu.
Quản lý nhà nước về nông nghiệp là hoạt động sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế-kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất. Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội. e 14 Từ những cách diễn đạt của khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp như trên có thể thấy rằng “Quản lý nhà nước về nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện, tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp”. Theo quan điểm của tác giả Quản lý nhà nước về nông nghiệp được hiểu là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động, chi phối có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội.
Quản lý nhà nước về nông nghiệp là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước đối với nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, tận dụng tối đa các cơ hội để có thể đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế về lâu dài của đất nước với mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy phát triển bền vững nền nông nghiệp quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp trong và ngoài nước. Đặc điểm của quản lý nhà nước về nông nghiệp a. Quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp cao Công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp cao vì những đặc điểm sau: - Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là sản xuất nông nghiệp được thực hành trên địa bàn đất đai rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và mang đặc tính khu vực, vùng miền rõ rệt.
Quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp cao vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi. Chúng là những cơ thể sống phát triển theo quy luật sinh e 15 học nhất định. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. - Do đối tượng quản lý của ngành nông nghiệp luôn thay đổi, phát sinh trong quá trình vận động, phát triển như giống cây trồng, vật nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi, … vì vậy quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp cao.
Quản lý nhà nước về nông nghiệp khó khăn hơn so với các ngành khác Công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp khó khăn hơn so với các ngành khác vì những đặc điểm sau: - Sản xuất nông nghiệp diễn ra chủ yếu trên địa bàn khu vực nông thôn, miền núi, những nơi có hạ tầng phát triển chậm, trình độ dân trí và mức sống dân cư còn thấp, sản xuất manh mún; phạm vi hoạt động rộng lớn, hoạt động sản xuất diễn ra không giống nhau nên việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn cũng như đầu tư khoa học công nghệ vào nông nghiệp gặp nhiều khó khăn lớn. - Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. - Chủ thể chính của sản xuất nông nghiệp là người nông dân.
So với các ngành khác, trình độ học vấn của người nông dân còn thấp nên việc quản lý nhà nước về nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm. e 16 - Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn chặt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, từ đó sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Quản lý nhà nước về nông nghiệp đòi hỏi cần có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp Công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp đòi hỏi cần có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp vì những đặc điểm sau: - Do ngành nông nghiệp được sản xuất tại các địa phương.
Hơn nữa nguồn thu từ nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của đa số các nông dân và hoạt động của ngành diễn ra trên một phạm vi rộng lớn nên việc quản lý nhà nước về nông nghiệp phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ngành, cấp, đoàn thể, mặt trận để đảm bảo quản lý được sát sao nhằm mục tiêu nâng cao đời sống cho người dân, trong ngành nông nghiệp. - Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu. Đặc biệt ở đâu có ruộng đất thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người có thể khai thác ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình quản lý phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm. - Công tác quản lý phải bao quát nhiều khâu khác nhau trong quá trình sản xuất: từ khâu giống, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ đều cần sự có mặt của các ngành như tài e 17 nguyên môi trường, hạ tầng kỹ thuật, khoa học – công nghệ, tài chính, kế hoạch, công thương nên công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ngành, đảm bảo tuân thủ theo quy định và đáp ứng các yêu cầu của thị trường.