Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định giai đoạn 2016 – 2020. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định giai đoạn 2020 – 2025. Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN.
Khái quát về kinh tế tƣ nhân. Khái niệm về kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân theo từ điển tiếng Anh (Cambridge Dictionary) [42] là một phần của nền kinh tế quốc dân bao gồm các DN tư nhân như hộ gia đình và DN sử dụng hầu hết các nguồn lực trong một nền kinh tế. Như vậy, KTTN được xác định là một khu vực (the private sector) phân biệt với khu vực công hay khu vực kinh tế nhà nước và là khu vực kinh tế nằm ngoài nhà nước, không thuộc sở hữu của nhà nước từ quá trình sản xuất đến tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh qua các hình thức DN, công ty tư nhân và các đơn vị kinh tế hộ gia đình.
Ở Việt Nam, KTTN từ ch không thừa nhận đến nay đã thừa nhận là một bộ phận của nền kinh tế nhiều thành phần, KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Hiện nay, KTTN được Đảng và Nhà nước đã khẳng định sự tồn tại khách quan và cần thiết của KTTN được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa XII), KTTN e 11 tiếp tục được khẳng định là một khu vực kinh tế cần “Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân” và “Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [16, tr. Hiện nay, việc nhận thức đúng về bản chất KTTN ở nước ta cần phải dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất của chủ nghĩa Mác - Lênin về các thành phần kinh tế.
Đặc biệt, khi nói đến chế độ sở hữu ở nước ta được ghi trong Hiến pháp 2013, là “dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” [27]. Chế độ sở hữu tư nhân là cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Với khái điểm đó, có thể hiểu KTTN là khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được tồn tại dưới các hình thức kinh tế hộ gia đình cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư bản tư nhân trong và ngoài nước với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Đặc điểm của kinh tế tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, KTTN được xem là một bộ phận kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Do đó, khi nói đến KTTN thường gắn liền với lợi ích cá nhân, mục đích là vì lợi nhuận, là một mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa nên nhu cầu không ngừng mở rộng quy mô, tái sản xuất mở rộng. Những đặc điểm riêng do quan hệ sản xuất của từng thành phần kinh tế và được xem xét trên cả 3 mặt quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối. Đó là: - Đặc điểm về quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Đối với hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất.
Kinh tế cá thể tồn tại dưới dạng các hộ hay hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ. Kinh tế tiểu chủ tồn tại dưới hình thức trang trại do một cá e 12 nhân hay một hộ gia đình làm chủ, hoặc có thuê một vài lao động, hoạt động kinh doanh chưa đăng ký theo loại hình DN mà chỉ đăng ký kinh doanh ở tại một địa điểm và không có con dấu, hoàn toàn chịu trách nhiệm bằng tổng tài sản của mình đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn đối với kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nhưng có quy mô lớn hơn hình thức cá thể, tiểu chủ và được tồn tại dưới dạng các DN sản xuất kinh doanh, hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, hiện nay thành phần kinh tế này cũng đang gặp nhiều khó khăn do tính chất của lĩnh vực hoạt động.
Thông thường một DN trong công nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất thì yếu tố vốn cần phải tập trung nhiều hơn, còn đối với lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu tập trung ruộng đất. Do đó, việc tập trung ruộng đất không chỉ là để mở rộng sản xuất mà còn là điều kiện cần thiết để ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tùy thuộc vào đối tượng sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhưng đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, tức là nhà nước toàn quyền quản lý đất đai giao cho các cá nhân tập thể quyền sử dụng đất. Để tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, kinh doanh nhà nước đã giao quyền sử dụng đất cho từng hộ xã viên, nông dân, cho phép mua bán, chuyển nhượng, cho nhận thừa kế theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động của KTTN thì quyền sử dụng đất là một quyền tài sản quan trọng, nếu giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng thì sẽ đảm bảo nâng cao hiệu quả đối với loại tài sản này. - Đặc điểm về tổ chức, quản lý. + Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ: việc điều hành hay tổ chức, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh đều dựa trên sự điều hành của chủ hộ trong gia đình hay chủ trang trại, các thành viên khác trong gia đình phục tùng theo sự phân công đó e 13 một cách tự nguyện, quan hệ giữa họ không phải là quan hệ giữa ông chủ - người làm thuê mà là quan hệ huyết thống trong gia đình, hay anh em, đôi khi có tính chất gia trưởng và mang đậm tính chất tiểu nông. + Đối với kinh tế tư bản tư nhân quan hệ tổ chức quản lý đã có sự phân định khá rạch ròi giữa một bên là ông chủ cá nhân - nếu đó là DN một chủ hay công ty tư nhân, một nhóm - nếu đó là công ty cổ phần còn bên còn lại là lao động làm thuê.
Trong trường hợp này, sức lao động đóng vai trò là hàng hóa, người chủ sở hữu sức lao động đó đem bán cho người sử dụng và phải phụ thuộc sự điều hành của ông chủ. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, quan hệ chủ - thợ cũng được thiết lập dựa trên sự quản lý, giám sát của pháp luật, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc biệt, đối với chủ thể của khu vực KTTN trong lĩnh vực nông nghiệp đòi hỏi ngày một cao cả về nhận thức cũng như tư duy về phát triển kinh tế thì mới đảm bảo tổ chức, quản lý yếu tố đầu vào quá trình sản xuất, cũng như đến kết quả thu hoạch; đến sản xuất chế biến quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. - Quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất.
Thực chất của quan hệ phân phối là giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất. + Kinh tế cá thể chủ yếu dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân do đó kết quả lao động sẽ thuộc về cá nhân đó. Tuy nhiên, quan hệ phân phối là sự tự phân phối trong nội bộ gia đình của các hộ sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong gia đình. Sản phẩm đưa ra thị trường để bán, thì đó là một phần sản phẩm tất yếu của gia đình, và thu được lợi nhuận cho gia đình, nên kinh tế cá thể thường gắn kết lợi ích vật chất của các thành viên trong hộ với kết quả sản xuất kinh doanh.
+ Đối với kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất xuất hiện thuê mướn lao động, mặc dù số lao động được thuê không e 14 nhiều, theo thời vụ nhưng việc phân phối cũng phải dựa trên thỏa thuận hợp đồng lao động. Thu nhập của các tiểu chủ có cả một phần do lao động làm thuê tạo ra, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào sức lao động và vốn của cá nhân là chính. Ngoài phân phối kết quả sản xuất, do có thuê mướn lao động nên cần phải căn cứ vào giá trị sức lao động của lao động làm thuê để phân phối thu nhập đảm bảo đúng sức sản xuất của người lao động. + Đối với kinh tế tư bản tư nhân quan hệ phân phối cho người lao động được thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng lao động, và theo quy định trong Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập hiện nay, việc phát triển kinh tế tư bản tư nhân phải đảm bảo công khai minh bạch, bình đẳng trong quá trình phân phối. Thực chất, các DN tư nhân có quy mô nhỏ và vừa, chủ DN còn trực tiếp tham gia quá trình sản xuất, thu nhập của giới chủ có phần đóng góp lao động của chính mình, lợi ích kinh tế ngày càng đảm bảo hài hòa, quan hệ chủ thợ cùng hướng đến xây dựng và phát triển doanh nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế đất nước.