phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Chƣơng 3: Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
6 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Những vấn đề chung liên quan đến đề tài luận văn 1. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ - Khái niệm khoa học Khoa học ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của con người với tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống. Nó lý giải, tìm kiếm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy để trả lời câu hỏi “Tại sao?” của con người.
Khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện KT-XH nhất định. Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người với những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội. Luật khoa học và công nghệ năm 2013 của Việt Nam nêu rõ: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [15]. - Khái niệm về công nghệ Trước đây, người ta hay dùng khái niệm kỹ thuật với ý nghĩa là công cụ, giải pháp và kiến thức được dùng trong sản xuất thay vì là khái niệm công nghệ.
Ngay cả khi mới xuất hiện, khái niệm công nghệ có nghĩa là trật tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất. Ngày nay, theo đúng nghĩa của nó, công nghệ được hiểu là phương tiện và hệ thống phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, nhằm biến đổi đầu vào và cho đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn. Nói đến kỹ thuật là nhấn mạnh đến yếu tố phần cứng (thiết bị, phương 7 e tiện, máy móc), còn nói đến công nghệ là bao gồm cả phần cứng và phần mềm; trong đó, muốn nhấn mạnh đến yếu tố phần mềm (bí quyết, kinh nghiệm, quy trình, phương pháp…). Nói công nghệ tức là đề cập đến vấn đề “làm như thế nào?”.
Theo uật Khoa học và Công nghệ năm 2013: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [15]. - Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Tuy đều là các quá trình hoạt động dựa trên cơ sở phát triển của trí tuệ con người và nhân loại, nhưng giữa khoa học và công nghệ có sự khác nhau căn bản. Một là, nếu khoa học là hoạt động tìm kiếm, phát hiện các nguyên lý, quy luật của quá trình phát triển và những biện pháp thúc đẩy sự phát triển, thì công nghệ là những hoạt động nhằm áp dụng những kết quả tìm kiếm, phát hiện vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Hai là, nếu các hoạt động khoa học được đánh giá theo mức độ khám phá hay nhận thức các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, thì các hoạt động công nghệ lại được đánh giá bằng thước đo qua phần đóng góp của nó đối với việc giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Ba là, nếu tri thức khoa học, nhất là khoa học cơ bản, được phổ biến rộng rãi và có thể trở thành tài sản chung, thì công nghệ lại là hàng hóa có chủ sở hữu cụ thể, có thể mua bán. Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt. Khác với các sản phẩm thông thường, trong quá trình sử dụng thì sản phẩm mất đi, còn công nghệ thì còn mãi, công nghệ còn được dùng nhiều lần cho đến khi công nghệ đó bị lỗi thời hay nói cách khác là khi đó có công nghệ mới thay thế. Bốn là, các hoạt động khoa học thường đòi hỏi khoảng thời gian dài, còn công nghệ có thể lại rất nhanh chóng bị thay thế.
Nhiều khi nhập công 8 e nghệ mới chưa kịp sử dụng thì đã bị mất giá trị. Do đó, vấn đề tranh thủ thời gian cũng là hiệu quả, để chậm thời gian là mất hiệu quả. Tuy khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau, nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tác động thúc đẩy lẫn nhau. Khoa học không chỉ mô tả khái quát công nghệ, mà còn tác động trở lại, mở đường cho sự phát triển của công nghệ.
Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất, đời sống. Nếu khoa học cơ bản vạch ra những nội dung chủ yếu của công nghệ, thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ thể hóa lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp. Ngược lại, công nghệ là cơ sở để tổng quát hóa thành những nguyên lý khoa học. Công nghệ còn tạo ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài.
Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất và đời sống thì việc ứng dụng, triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếp nhiều hơn. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử. Trước thế kỷ 19, khoa học thường đi sau và giải thích cho sự phát triển của công nghệ. Mối quan hệ ấy có thể biểu diễn theo trình tự sản xuất công nghệ khoa học.
Từ cuối thế kỷ 19, khoa học tiệm cận gần hơn với công nghệ. Mỗi khó khăn của công nghệ là một sự gợi mở cho hướng nghiên cứu khoa học và ngược lại, những phát minh khoa học lại tạo điều kiện cho sáng tạo công nghệ mới. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo, dẫn dắt sự nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ, từ đó tác động trực tiếp vào toàn bộ quá trình sản xuất. Mối quan hệ ấy được mô tả theo một trình tự hoàn toàn ngược lại khoa học công nghệ sản xuất.
Những thành tựu của khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được ứng dung rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống chứ không riêng gì trong sản xuất. 9 e - Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, có định hướng của nhà nước lên các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến của Nhà nước. - Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là những hoạt động điều chỉnh, định hướng, quyết sách về khoa học và công nghệ nhằm thực hiện có hiệu quả về các mặt: xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, hoạch định, tổ chức, chỉ huy, điều tiết, điều khiển, kiểm tra, kiểm soát. đối với hoạt động khoa học và công nghệ; hay nói cách khác, Nhà nước thông qua các cơ chế, pháp luật, chính sách và các giải pháp về khoa học và công nghệ để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ một cách ổn định và bền vững.
Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ bao gồm các lĩnh vực như: xây dựng và ban hành các văn bản qui phạm pháp luật, quản lý các hướng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ trọng yếu; xây dựng, ban hành, quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; phát triển thị trường khoa học, công nghệ; đào tạo nhân lực, hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ. Một số khái niệm liên quan - Tổ chức khoa học và công nghệ: là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật [15]. - Hoạt động khoa học và công nghệ: là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo 10 e khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [15]. - Chính sách: là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định. - Thị trường khoa học và công nghệ: là một thuật ngữ để hàm ý các thể chế thực hiện các giao dịch mua - bán, trao đổi loại hàng hóa đặc biệt là sản phẩm hoặc dịch vụ khoa học và công nghệ. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ 1. Vai trò của khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Kinh tế học hiện đại khi phân tích đóng góp của các nguồn lực vào tốc độ tăng truởng kinh tế đã cho rằng KH&CN là biến số quan trọng nhất. Hiẹn nay, phần đóng góp của KH&CN vào tăng truởng kinh tế ở các nuớc phát triển đạt tới 60- 70 , còn ở một số nuớc đang phát triển cũng ở mức 30-40%. Khoa học và công nghệ thúc đẩy tang truởng kinh tế thông qua tác động đối với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Cụ thể, KH&CN góp phần mở rộng khả nang phát hiện, khai thác và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lao động, nguồn vốn và tài nguyên thiên nhiên.
KH&CN làm biến đổi chất luợng nguồn lực lao động theo huớng tiến bộ. Co cấu lao động của xã hội chuyển từ lao động giản đon là phổ biến sang lao động phức tạp, lao động trí tuệ là chủ yếu, nhờ đó năng suất lao động tăng lên. Khoa học và công nghệ mở rộng khả năng huy động tập trung, di chuyển các nguồn vốn một cách an toàn, chính xác và kịp thời. Vì thế, hiệu quả sử dụng vốn tang lên.