Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI 1. Những vấn đề lý luận chung về hội 1. Quan niệm về hội của một số quốc gia và của Việt Nam 1. Quan niệm về hội của một số quốc gia trên thế giới Trong tiếng Anh, ý niệm “hội” được thể hiện qua hai khái niệm “association” chỉ hình thức tổ chức của các cá nhân có cùng mối quan tâm hay “society” chỉ một cộng đồng có tổ chức.
Cả hai khái niệm này đều có từ gốc La-tinh là socius/socielis hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa con người với nhau và hình thành nên xã hội (“society”).11 Theo Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc về bảo vệ quyền con người, khái niệm “hội” lại được nhắc đến như bất kỳ nhóm cá nhân hoặc pháp nhân tụ họp cùng nhau để cùng hành động, biểu đạt, thúc đẩy, theo đuổi hay bảo vệ một mối quan tâm chung. Từ “hội” trong đó bao gồm các tổ chức xã hội dân sự, câu lạc bộ, hợp tác, tổ chức phi chính phủ, các hội mang tính tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, các quỹ hoặc thậm chí các hội trực tuyến.227-228 Quan niệm về hội trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới được diễn giải và định nghĩa theo những cách khác nhau, và thường các nước nhắc đến quyền lập hội, quyền hội họp hơn là nêu ra một khái niệm cụ thể về hội. Tuy nhiên, ở một số nước đã đưa những định nghĩa đầy đủ và cụ thể và được quy định trong Luật về hội hay các Luật Dân sự liên quan. Có thể điểm qua một số nước định nghĩa hội bằng việc nhấn mạnh một đặc điểm quan trọng của hội, đó là không vì mục tiêu lợi nhuận như Pháp, Thái Lan, Ba Lan.
Cụ thể như định nghĩa của Pháp tại Điều 1 Luật về Hội ngày 01/7/1901 đưa ra định nghĩa: “Hội là một hợp đồng giao kết hai hoặc nhiều người cùng đóng 9 e góp, bằng kiến thức và sinh hoạt thường xuyên, vào việc thực hiện một mục đích không phải là mục đích để chia lời” 1, tr. Hay như định nghĩa của Thái Lan xuất phát từ quan niệm cho rằng tự do lập hội cũng là một dạng của tự do thoả thuận hợp đồng và hội là do các cá nhân cùng thỏa thuận thành lập, quy định tại Điều 1274 của Bộ luật dân sự và thương mại cho rằng: “Hợp đồng thành lập hội liên hiệp là một hợp đồng, qua đó, nhiều người thoả thuận hợp nhau lại để cùng tiến hành một hoạt động chung ngoài mục đích chia lời” 1, tr. Luật về Hội của Ba Lan năm 1989 lại quy định một cách đơn giản, hiện đại và cởi mở hơn: “Hội là sự liên kết tự nguyện, tự quản, bền vững và không vì mục đích lợi nhuận”.53 Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, ở Nga lại không gọi là quyền lập hội hay Luật về Hội mà gọi là Luật về hiệp hội xã hội và quyền tự do hiệp hội. Theo đó, các nhà lập pháp Nga sử dụng thuật ngữ “hiệp hội xã hội” thay cho thuật ngữ “hội”, tại Điều 5 Luật Liên bang số 82 về các hiệp hội xã hội năm 1995, sửa đổi bổ sung tới tháng 01/2016, thuật ngữ “hiệp hội xã hội” được hiểu là “các liên kết được lập ra theo sáng kiến của người dân trên cơ sở tự nguyện có lợi ích chung để đạt được những mục tiêu chung được quy định trong điều lệ của hiệp hội”.290 Một số nước lại không có một đạo luật cụ thể nào quy định về quyền tự do hiệp hội như Trung Quốc hay Mỹ, khái niệm hội được đúc kết qua một số quy định được các tác giả Việt Nam nghiên cứu trong các bài báo tôi xin trích dẫn ở đây.
Đối với Trung Quốc, các quy định liên quan đến hội được điều chỉnh bởi Quyết định số 250 điều chỉnh việc đăng ký và quản lý các tổ chức xã hội Quốc vụ viện, trong đó, khái niệm “hội” được sử dụng dưới thuật ngữ “tổ chức xã hội” (social organization) là các tổ chức phi lợi nhuận tự nguyện, có tư cách pháp nhân, do công dân lập nên nhằm đạt được mong muốn chung của các thành viên và quản lý các hoạt động theo điều lệ của mình 19, 10 e tr. Khái niệm “hội” (association) theo pháp luật Hoa Kỳ lại được hiểu theo nghĩa rất rộng là bất kỳ hình thức liên kết nào giữa cá nhân, trong đó có cả những liên kết không được hiểu theo nghĩa thông thường của từ “hội” như liên kết giữa vợ và chồng trong gia đình, giữa các cá nhân chung sống như vợ chồng, bao gồm cả những cặp đôi đồng giới. Vì vậy để hiểu một cách chính xác, có lẽ nên dịch cụm từ “freedom of association” trong pháp luật Hoa Kỳ là “quyền tự do liên kết”.313 Như vậy, điểm qua một số quan niệm về “hội” có thể thấy điểm chung của các quan niệm này đều xoay quanh ý nghĩa là sự liên kết một cách tự nguyện giữa các cá nhân không vì mục tiêu lợi nhuận. Quan niệm về hội ở Việt Nam hiện nay Trong tiếng Việt, theo cách hiểu thông thường, danh từ “hội” có hai nghĩa gần nhau dùng để chi: 1) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt đồng.
Chữ “hội” có thể hiểu đơn giản là tụ họp lại, gặp nhau.22-23 Theo Từ điển hành chính của ông Tô Tử Hạ lại cho rằng: “Hội là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi”.24 Ngoài ra, điểm qua một số sách và các bài viết liên quan của các tác giả Việt Nam cũng có đưa ra các khái niệm về hội như sau: - Sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước” của tác giả Thang Văn Phúc nêu cách hiểu về hội là những tổ chức tự nguyện của quần chúng. Những tổ chức đó tập hợp đông đảo người cùng ngành nghề, hoặc cùng sở thích… Họ cùng góp kiến thúc, sức lực và hành động một cách thường xuyên để đạt một mục đích nào đó, do những người tự nguyện sáng 11 e lập đề ra, mục đích đó không trái với lợi ích dân tộc và Tổ quốc, không vụ lợi và trong khuôn khổ pháp luật.12 - Sách “Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam” đề xuất định nghĩa như sau: Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất 2 cá nhân hoặc tổ chức, thường xuyên đóng góp kiến thức và sinh hoạt, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.139 - Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong bài viết “Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và hội và dự thảo Luật hội ở Việt Nam” lại hiểu khái niệm Hội theo nghĩa “là sự thỏa thuận, liên kết, tập hợp, quy tụ của nhiều người với nhau thành nhóm để hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung”.32 Trong các văn bản pháp luật về hội, nước ta cũng đưa ra những định nghĩa cụ thể và rõ ràng, phù hợp với tình hình phát triển của các hội ngay từ khi ban hành các văn bản đầu tiên. Trong Sắc luật 038-TT/STU ngày 22/12/1972 sửa đổi Dụ số 10 ngày 06/8/1950 quy định thể lệ lập hội (ban hành dưới chế độ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại), tại điều thứ nhất đã đưa ra một định nghĩa: “Hội là giao ước của nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hoạt động liên tục để theo đuổi mục đích thuộc các lãnh vực tôn giáo, tế tự, từ thiện, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, mỹ thuật, giải trí, đồng nghiệp tương tế, ái hữu, thanh niên và thể dục, thể thao không có tính cách chính trị, thương mại hoặc phân chia lợi tức” 1, tr. Sắc lệnh số 52/SL ngày 22 tháng 4 năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề cập đến khái niệm “hội” tại Điều 1 như sau: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành 12 e động để đạt mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi tức” 1, tr.
Và theo quy định hiện hành của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sau đây gọi tắt là Nghị định 45) thì hội được định nghĩa là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.1 Như vậy, nhìn chung ta có thể thấy khái niệm hội của Việt Nam được trình bày cụ thể hơn, diễn đạt chi tiết hơn về đặc trưng của các hội, trong khi khái niệm của quốc tế thường diễn đạt theo cách khái quát hơn. Tuy nhiên, vẫn có một số điểm khác như sau: - Ở Việt Nam có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong khi trên thế giới không tồn tại loại hình này; - Hội theo cách tiếp cận của thế giới không chỉ có các tổ chức chính thức (có đăng ký, có tư cách pháp nhân) mà còn bao gồm những tổ chức không chính thức (không đăng ký, không có tư cách pháp nhân); - Ở Việt Nam một số ý kiến cho rằng hội bao gồm cả tổ chức hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…). Tuy nhiên, trong luận văn này khái niệm hội vẫn sẽ được hiểu theo Nghị định 45. Như vậy có nghĩa là hội không bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức giáo hội theo như quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Nghị định 45.
Phân loại, tính chất và vai trò của hội 1.