Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững cho dân tộc thiểu số huyện Lộc Ninh, Bình Phước

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết "Quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững dân tộc thiểu số Lộc Ninh": { "ai_description": "Tìm hiểu cách quản lý

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

186
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững dân tộc thiểu số

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước là địa bàn biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Các dân tộc như Stiêng, Khmer, Tày, Nùng chiếm tỷ lệ lớn trong dân số huyện. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn cao hơn mức bình quân chung. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý nhà nước hiệu quả. Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững bao gồm xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá kết quả. Cơ quan thực hiện gồm HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã và các phòng ban chuyên môn. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực các chương trình giảm nghèo quốc gia. Phòng Dân tộc phối hợp thực hiện chính sách đặc thù cho đồng bào dân tộc thiểu số. Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Bích Lệ, do TS. Nguyễn Hoàng Quy hướng dẫn, được hoàn thành năm 2017 tại Học viện Hành chính Quốc gia. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Lộc Ninh.

1.1. Khái niệm giảm nghèo bền vững và chuẩn nghèo đa chiều

Giảm nghèo bền vững là quá trình giúp hộ gia đình thoát nghèo và không tái nghèo. Chuẩn nghèo đa chiều tại Việt Nam áp dụng từ giai đoạn 2016-2020. Phương pháp này đo lường nghèo dựa trên mức thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Các chiều thiếu hụt gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin. Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ một phần ba tổng điểm trở lên. Cách tiếp cận này phản ánh toàn diện hơn tình trạng nghèo so với phương pháp đơn chiều trước đây.

1.2. Vai trò của bộ máy nhà nước cấp huyện trong công tác giảm nghèo

UBND huyện Lộc Ninh chịu trách nhiệm chính trong triển khai các chương trình giảm nghèo bền vững. Cơ quan này xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực và kiểm tra thực hiện chính sách. HĐND huyện quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Phòng Dân tộc và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là hai đơn vị trực tiếp tham mưu thực hiện. Cán bộ cấp xã đóng vai trò then chốt trong triển khai chính sách đến tận hộ gia đình. Hệ thống chính trị cơ sở là cầu nối giữa nhà nước và đồng bào dân tộc thiểu số.

II. Thực trạng nghèo và hạn chế trong quản lý nhà nước tại huyện Lộc Ninh

Huyện Lộc Ninh giáp biên giới Campuchia, có địa hình phức tạp và điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện luôn ở mức cao. Nguyên nhân chính gồm trình độ học vấn thấp, thiếu đất sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu và khả năng tiếp cận thị trường hạn chế. Nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn. Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và thông tin còn nhiều hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững còn bộc lộ nhiều tồn tại. Chính sách hỗ trợ còn mang tính bao cấp, chưa tạo được động lực tự vươn lên của hộ nghèo. Đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách dân tộc ở cơ sở còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực. Công tác tuyên truyền, vận động chưa sâu rộng đến từng hộ gia đình. Việc phân bổ nguồn lực đôi khi chưa đúng đối tượng và chưa phù hợp thực tế địa phương. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành trong triển khai chính sách còn chồng chéo, thiếu đồng bộ.

2.1. Các nhóm hộ nghèo và phương thức tiếp cận chính sách hỗ trợ

Chính sách giảm nghèo đa chiều phân chia thành bốn nhóm hộ gia đình cần hỗ trợ. Nhóm hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp để cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Nhóm hộ cận nghèo được hỗ trợ có điều kiện một số chính sách nhất định. Nhóm hộ chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản được tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ thường xuyên. Nhóm hộ có mức sống dưới trung bình được tác động bằng các chính sách vĩ mô. Cách phân nhóm này giúp phân bổ nguồn lực đúng đối tượng và tránh lãng phí ngân sách nhà nước.

2.2. Những hạn chế trong triển khai chính sách giảm nghèo tại địa phương

Công tác bình xét hộ nghèo tại một số địa phương còn thiếu minh bạch và chưa khách quan. Một số hộ thoát nghèo theo tiêu chí nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong cuộc sống thực tế. Nguồn vốn hỗ trợ sản xuất chưa được sử dụng hiệu quả do thiếu hướng dẫn kỹ thuật đi kèm. Công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số chưa gắn với nhu cầu thị trường. Tình trạng tái nghèo vẫn còn xảy ra sau khi hộ gia đình được đưa ra khỏi danh sách hộ nghèo. Đây là thách thức lớn đối với mục tiêu giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với dân tộc thiểu số tại huyện Lộc Ninh, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số biên giới. Chính sách cần hướng đến tăng cường tính tự chủ, tự lực của hộ gia đình thay vì hỗ trợ bao cấp. Cần tăng cường đầu tư hạ tầng giao thông, điện, nước sạch tại các thôn, bản vùng sâu vùng xa. Chương trình đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động địa phương và vùng lân cận. Hỗ trợ vốn sản xuất cần kèm theo hướng dẫn kỹ thuật canh tác và chăn nuôi phù hợp. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cần sử dụng ngôn ngữ của đồng bào. Cán bộ cơ sở cần được đào tạo nâng cao năng lực, ưu tiên cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ. Cơ chế phối hợp giữa các phòng ban, ngành cần được xác định rõ trách nhiệm và quy trình phối hợp. Hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả giảm nghèo cần được kiện toàn và minh bạch hóa.

3.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù

Hệ thống chính sách giảm nghèo cần được rà soát, loại bỏ sự chồng chéo giữa các chương trình. Chính sách đặc thù cho vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số cần được bổ sung kịp thời. Nguồn lực từ ngân sách trung ương và địa phương cần được phân bổ minh bạch, đúng mục tiêu. Cơ chế lồng ghép các chương trình giảm nghèo với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội cần được tăng cường. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số sẽ tạo thêm việc làm cho người dân. Điều này giúp tăng thu nhập bền vững cho hộ gia đình dân tộc thiểu số.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và phát huy vai trò cộng đồng

Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và giảm nghèo tại huyện Lộc Ninh cần được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ. Ưu tiên tuyển dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ để tăng hiệu quả giao tiếp và vận động. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng. Các tổ chức đoàn thể cần tích cực tham gia vào công tác giám sát thực hiện chính sách giảm nghèo. Mô hình tổ tự quản về giảm nghèo tại thôn, bản cần được nhân rộng. Sự tham gia chủ động của chính người nghèo vào quá trình thực hiện là yếu tố quyết định tính bền vững.

IV. Kết luận và bài học kinh nghiệm về giảm nghèo bền vững dân tộc thiểu số

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Bích Lệ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Nghiên cứu chỉ ra rằng giảm nghèo bền vững đòi hỏi sự kết hợp giữa chính sách hỗ trợ của nhà nước và nỗ lực tự vươn lên của người dân. Kinh nghiệm từ các quốc gia và địa phương thành công cho thấy mỗi cách tiếp cận cần phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng. Công tác giảm nghèo không thể chỉ tập trung vào tăng thu nhập mà cần chú trọng nâng cao toàn diện các chiều thiếu hụt. Đặc biệt, giáo dục và đào tạo nghề là nền tảng lâu dài cho giảm nghèo bền vững thế hệ tiếp theo. Các giải pháp đề xuất trong luận văn có giá trị tham khảo cho các huyện có điều kiện tương tự. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào cơ sở khoa học phục vụ hoạch định chính sách dân tộc và giảm nghèo tại tỉnh Bình Phước. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng phát triển.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ các mô hình giảm nghèo trong và ngoài nước

Mỗi quốc gia và địa phương có cách tiếp cận quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo riêng, phù hợp điều kiện thực tế. Kinh nghiệm các nước Đông Nam Á cho thấy đầu tư vào giáo dục và hạ tầng nông thôn mang lại hiệu quả giảm nghèo cao và bền vững. Tại Việt Nam, mô hình giảm nghèo gắn với phát triển sản xuất nông nghiệp ở nhiều tỉnh miền núi đã mang lại kết quả tích cực. Bài học quan trọng là không nên duy trì hỗ trợ bao cấp kéo dài vì dễ tạo tư tưởng ỷ lại trong một bộ phận hộ nghèo. Trao quyền tự quyết cho cộng đồng là chìa khóa để đảm bảo tính bền vững lâu dài.

4.2. Định hướng phát triển và triển vọng giảm nghèo bền vững tại Lộc Ninh

Huyện Lộc Ninh có tiềm năng phát triển kinh tế biên mậu và du lịch văn hóa dân tộc. Khai thác tốt lợi thế này sẽ tạo thêm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Vùng kinh tế cửa khẩu Hoa Lư tạo cơ hội việc làm và thương mại cho người dân địa phương. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc sản gắn với thương hiệu địa phương sẽ nâng cao thu nhập hộ gia đình. Đầu tư giáo dục chất lượng cho thế hệ trẻ dân tộc thiểu số là nền tảng cho giảm nghèo bền vững lâu dài. Phối hợp chặt chẽ giữa tỉnh Bình Phước và các tỉnh lân cận trong các chương trình giảm nghèo liên vùng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện lộc ninh tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học QLNN về GNBV đối với các DTTS. Thực trạng QLNN về GNBV đối với các DTTS trên địa bàn huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện QLNN về GNBV đối với các DTTS trên địa bàn huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Lý luận về giảm nghèo bền vững đối với các dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm về đói nghèo Đói nghèo là một hiện tượng KT-XH mang tính chất toàn cầu. Tuy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị, xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau.

Theo định nghĩa của Wikipedia, nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tháng 9/1993, tại Băng Cốc - Thái Lan, Hội nghị bàn về đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức đã đưa ra khái niệm về đói, nghèo: “Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương”. - Khái niệm về người nghèo được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.

- Đề cập đến vấn đề này, Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra khái niệm về đói, nghèo: “Là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học”. - Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại tách riêng hai khái niệm: đói và nghèo: Đói: “Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, thường vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả”; Nghèo: “Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng 15 thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. - Khái niệm về nghèo theo thu nhập được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra: “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định”.

Trên thực tế, có thể thấy quan điểm, khái niệm về đói, nghèo không thống nhất nhau đối với từng quốc gia mà có chuẩn mực đánh giá riêng. Vì vậy, từng quốc gia, từng vùng, địa phương cần phải xác định thước đo mức nghèo đói trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính. Khái niệm về đói, nghèo ở Việt Nam cơ bản có sự tương đồng với các khái niệm về đói, nghèo được thế giới thừa nhận. Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về đói, nghèo do ESCAP đưa ra (năm 1993).

Từ cách tiếp cận, góc nhìn khác nhau về đói nghèo, tiêu chí, chỉ số đánh giá về đói, nghèo và chuẩn nghèo được các quốc gia, tổ chức đưa ra dựa trên những cơ sở, căn cứ khác nhau: (i) Chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index) do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đề ra (dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như: tuổi thọ dân cư trung bình; tình trạng biết chữ của người lớn; thu nhập bình quân trên đầu người trong năm; (ii) Tiêu chí đánh giá nghèo theo Đường nghèo, được WB phân chia theo hai mức: về lương thực, thực phẩm (lượng calo tối thiểu cho một người/một ngày) và đường nghèo chung; (iii) Đánh giá nghèo theo mức chi tiêu tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người do WB đưa ra; (iv) Đánh giá nghèo theo thu nhập bình quân đầu người do WB đưa ra; (v) Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI- Human Poverty Index): đo lường sự nghèo khổ của con người trên hai lĩnh vực chính là giáo dục và y tế.; (vi) Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI- Multidimensional Poverty Index): được phát triển, ứng dụng bởi OPHDI (Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường Đại học Oxford. Chỉ số này là khái niệm được WB và UNDP quan tâm và sử dụng nhiều trong thời gian gần đây. Để xác định ngưỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề là xác định được chuẩn đói nghèo. Nó biến động theo thời gian và không gian, nên không 16 thể đưa ra được một chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác XĐGN mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử.

Nó là một khái niệm động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính. Qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu, Việt Nam đã đưa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn. Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng (theo năm). Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy ra gạo để đánh giá.

Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại. Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như HDI, HPI cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu sử dụng trong các công trình nghiên cứu KT-XH hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới. Tại Việt Nam, Bộ LĐ-TB&XH là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện điều tra, khảo sát các chỉ tiêu KT-XH, nghiên cứu và đề xuất Chính phủ, dựa vào đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã có 06 lần thay đổi chuẩn nghèo.

Các mức chuẩn nghèo trong 3 giai đoạn đầu: 1993-1994,1995-1997 và 1998-2000: xác định theo thu nhập bình quân đầu người/tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng). Giai đoạn 2001-2005 và 2006 - 2010 vẫn được tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng). Năm 2011, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (2011-2015), hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Mức chuẩn nghèo bằng hiện vật (gạo) được thay đổi bằng giá trị (tiền) đã cho thấy công cuộc giảm nghèo của Việt Nam có bước tiến mới, thể hiện sự tiến bộ trong tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo.

Mặt khác, chuẩn nghèo thường xuyên 17 được nâng lên nhằm tiếp cận với chuẩn nghèo thế giới khẳng định quyết tâm XĐGN của Đảng và Nhà nước. Trong những năm gần đây, Chính phủ thường công bố thay đổi tăng mức chuẩn nghèo 5 năm một lần và trước kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Quốc hội là một căn cứ quan trọng cho các định hướng và giải pháp giảm nghèo trong từng giai đoạn. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam. Hộ nghèo: là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.

Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những kết cấu hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch. trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Riêng khái niệm hộ gia đình DTTS nghèo, tác giả chú ý khi thực hiện quá trình quản lý ở đây là gồm nhóm hộ nghèo và 3 nhóm hộ lân cận: (1) Nhóm hộ nghèo bao gồm 3 loại: Hộ nghèo nhóm 1: là nhóm hộ nghèo cùng cực, vừa thiếu hụt thu nhập vừa thiếu hụt đa chiều (các hộ có thu nhập bình quân đầu người từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội trở lên), là nhóm hộ ưu tiên nhất trong các hỗ trợ giảm nghèo và an sinh xã hội.

Hộ nghèo nhóm 2: là những hộ nghèo về thu nhập nhưng không thiếu hụt đa chiều về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Giải pháp tác động là hỗ trợ trực tiếp, tập trung vào tạo các điều kiện sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập, thông qua các chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ về sản xuất, tham gia thị trường lao động trong nước hoặc xuất khẩu lao động. Hộ nghèo nhóm 3: là nhóm hộ không nghèo về thu nhập nhưng thiếu hụt đa chiều về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Giải pháp tác động chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình và thành viên để cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

18 (2) Nhóm hộ cận nghèo: là nhóm hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở xuống, cao hơn chuẩn nghèo chính sách và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở xuống. Giải pháp tác động hỗ trợ một phần, có điều kiện một số chính sách. (3) Nhóm hộ chƣa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là nhóm hộ không nghèo về thu nhập nhưng thiếu hụt từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ