MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, rừng có vai trò đảm bảo an ninh - quốc phòng (ANQP), cung cấp ôxy, bảo vệ môi trƣờng sống, cung cấp nguồn nƣớc phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của con ngƣời và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH); rừng góp phần vào các hoạt động kinh tế nhờ vào khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục lâu dài với chất lƣợng nguyên liệu cao cho các ngành công nghiệp nhƣ: công nghiệp giấy, chế biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, sợi dệt, lấy tinh dầu, cung cấp các hoạt động dịch vụ nhƣ du lịch sinh thái. Thực tế cho thấy nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trƣờng thì đóng góp của ngành lâm nghiệp hiện nay khoảng 6% trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP); tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ của ngành lâm nghiệp đạt 6,3 tỷ USD năm 2014, tăng 41,2% so với năm 2009 (Đỗ Hƣơng, 2014). Bên cạnh đó, rừng tạo ra các sản phẩm dịch vụ, nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái gắn liền với các vƣờn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt, du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thu nhập cho ngƣời dân bản địa góp phần ổn định dân cƣ và xoá đói giảm nghèo… Hiện nay, việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) nhƣ khai thác các loại quặng, các mỏ quặng thƣờng nằm ở những khu rừng có trữ lƣợng gỗ lớn khi tiến hành khai thác quặng thƣờng phải phá bỏ hết số lƣợng gỗ trên diện tích mỏ quặng, tùy theo qui mô của từng mỏ quặng có thể từ vài chục đến vài trăm hécta (ha) rừng bị phá.
Bên cạnh đó, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nhân dân sống gần rừng ở các tỉnh miền núi, đời sống chủ 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu dựa vào khai thác các sản phẩm từ rừng làm suy giảm từng ngày, từng giờ nguồn tài nguyên rừng. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có nhiều thay đổi về quản lý nhà nƣớc (QLNN) trong lĩnh vực bảo vệ rừng (BVR). Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành lần đầu tiên năm 1991 đến năm 2004 đƣợc sửa đổi, bổ sung; vấn đề bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) đã đƣợc đƣa vào mục tiêu kế hoạch phát triển KT-XH. Nghị quyết Đại hội VII của đảng đã khẳng định: BV&PTR, đẩy nhanh việc trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống, đồi núi trọc gắn với phân bố lao động lên trung du, miền núi, thực hiện định canh, định cƣ, ổn định đời sống của các dân tộc, mọi đất rừng đều có ngƣời làm chủ trực tiếp, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Đã có một số công trình nghiên cứu nhƣ: Luận văn Thạc sỹ Luật học “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Huyền (2005), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; tác giả nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng. Luận án Tiến sĩ Luật học “Quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” của Hà Công Tuấn (2006), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; tác giả nhấn mạnh trong các công cụ quản lý Nhà nƣớc nói chung và quản lý bảo vệ rừng nói riêng thì công cụ pháp luật đóng vai trò rất quan trọng. Luận án Tiến sĩ ngành Luật kinh tế “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Huyền (2012), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; tác giả làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò, sự điều chỉnh của pháp luật về QLBVR ở Việt Nam hiện nay và nêu bật các yêu cầu đặt ra, cũng nhƣ xây dựng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đối với pháp luật QLBVR. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhờ vào những đổi mới trong quá trình QLNN những năm qua, hoạt động QLBVR đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng nhƣ: nhận thức của ngƣời dân về BVR đƣợc nâng lên, quan điểm đổi mới xã hội hóa về BVR đƣợc triển khai thực hiện bƣớc đầu có hiệu quả; hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) ngày càng đƣợc hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chủ trƣơng đổi mới quản lý hiện nay và thông lệ Quốc tế; Chính quyền các cấp đã quan tâm nhiều hơn đến công tác QLBVR, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng (TNR) đƣợc ngăn chặn, đẩy lùi; thiệt hại về TNR do hành vi vi phạm gây ra giảm, số vụ vi phạm Luật BV&PTR trên phạm vi toàn quốc năm 2009 so với năm 2013 là 40.430 vụ; diện tích rừng toàn quốc năm 2009 so với năm 2013 là 13,2 triệu ha/13,9 triệu ha tăng 0,7 triệu ha; độ che phủ của rừng năm 2009 so với năm 2013 là 39,1%/41,5 % tăng 2,4% (Quyết định 2140/QĐ-BNN-TCLN, 2010 và Quyết định 3322/QĐ- BNN-TCLN, 2014).
Tuy nhiên, do vấn đề đói nghèo chƣa đƣợc giải quyết triệt để, rừng đã đƣợc giao nhƣng khâu quản lý bảo vệ chƣa đƣợc chặt chẽ. Bên cạnh đó, lợi nhuận đem lại từ việc buôn bán gỗ và các sản phẩm khác từ rừng trái pháp luật là rất lớn do vậy tình trạng vi phạm các qui định của Nhà nƣớc về BVR nhƣ phá rừng, khai thác gỗ trái pháp luật trên phạm vi cả nƣớc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng vẫn diễn ra làm cho chất lƣợng rừng bị suy giảm. Việc rừng bị tàn phá đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhƣ: lũ ống, lũ quét, lở đất, lở đá, hạn hán và các tác hại về môi trƣờng sinh thái, ô nhiễm nguồn nƣớc, ảnh hƣởng lớn đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Hàng năm, nhà nƣớc phải chi ra nhiều tỷ đồng để khắc phục những hậu quả này gây bức xúc trong xã hội tác động tiêu cực đến hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR.
Hiện nay, tỉ lệ phá rừng trên phạm vi cả nƣớc là 12,6% hay 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.510 ha/năm; đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở đất ảnh hƣởng tới các vùng dân cƣ làm chết và mất tích 646 ngƣời, bị thƣơng 351 ngƣời; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100.000 căn nhà bị hƣ hại nặng; hàng trăm ha đất canh tác và hơn 75.000 ha lúa bị vùi lấp, bị ngập; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế bị hƣ hỏng nặng nề, tổng thiệt hại trên 3.300 tỷ đồng, các tỉnh thƣờng xảy ra lũ quét, sạt lở đất gồm Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái (Báo cáo 1352/BC-PCLBTW,2014). Từ những phân tích trên có thể thấy việc quản lý bảo vệ và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn TNR sẽ góp phần to lớn vào phát triển KT-XH, bảo vệ môi trƣờng sống. Thêm vào đó, các nghiên cứu trong chủ đề này tại Việt Nam từ trƣớc đến nay tập trung chủ yếu vào những đánh giá vĩ mô, phân tích các chính sách tổng thể, chứ chƣa đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR ở cấp độ địa phƣơng. Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn tỉnh Hà Giang có vai trò quan trọng trong việc đánh giá những mặt đã đạt đƣợc cũng nhƣ chỉ ra những nguyên nhân của sự tồn tại, yếu kém, đồng thời tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt đƣợc và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR tại địa phƣơng.
Vì vậy, đề tài “Quản lý Nhà nƣớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Hà Giang” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu chính Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng (BVR), đánh giá thực trạng hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR tại địa phƣơng, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR tại tỉnh Hà Giang. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể - Hệ thống hóa đƣợc cơ sở lý luận về QLNN, đánh giá hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR. - Phân tích những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR tại tỉnh Hà Giang. - Câu hỏi nghiên cứu - Hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR là gì? Hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR có những đặc điểm, nguyên tắc và nội dung gì? Có những tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh BVR? - Thực trạng hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoan 2009 - 2013 nhƣ thế nào? - Những thành tựu đạt đƣợc và hạn chế trong hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn tỉnh Hà Giang? Những nguyên nhân nào làm hạn chế hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn tỉnh Hà Giang? - Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn tỉnh Hà Giang? 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, nguyên nhân tồn tại xuất phát từ hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR và một số yếu tố khác làm ảnh hƣởng đến hoạt động QLNN trong lĩnh vực này, làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.