CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XĂNG DẦU 1. Khái quát quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu 1. Khái niệm và vai trò quản lý nhà nước về kinh tế 1. Tiếp cận quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý nhà nước (QLNN) về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật và thông qua hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Quản lý nhà nước về kinh tế là một dạng quản lý xã hội của Nhà nước. Nó rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng cũng rất phức tạp. Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên tất cả các ngành kinh tế, các lãnh thổ kinh tế, các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế. Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân không chỉ trên phạm vi quốc gia mà còn cả một số hoạt động kinh tế đối ngoại diễn ra ở nước ngoài, như các doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài, các hàng hóa xuất nhập khẩu từ nước ngoài, thẩm định các công nghệ thiết bị nhập khẩu.
Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý ở tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Nhà nước không can thiệp, không giải quyết những vấn đề quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị trường (cá nhân, doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế. Trong quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như công cụ định hướng (kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế .), công cụ kinh tế, tài chính tiền tệ (chính sách đầu tư, thuế, chi tiêu ngân sách, hệ thống ngân hàng, lãi suất, tín dụng.), công cụ pháp lý (pháp luật, các văn bản pháp quy.), các công cụ tổ chức và giáo dục. Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp(Chính phủ) nhằm đạt tới các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra.
(Thân Danh Phúc, 2015) 9 Thực chất quản lý nhà nước về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước mà nhà nước có khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước. Quản lý nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ thực hiện riêng, đó là các quản lý và các vấn đề mang tính quy luật trong các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế xã hội. Còn là một nghệ thuật và một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh và đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý, khả năng thích nghi.
của bộ máy quản lý kinh tế nhà nước. Theo Nghị quyết số 49/2014/NQ-CP, quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, cao học viên tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước theo quan điểm của Thân Danh Phúc 2015 (Giáo trình Quản lý nhà nước về thương mại). Theo đó, bản chất của quản lý nhà nước về kinh tế đó là tác động của Nhà nước vào kinh tế thông qua việc sử dụng quyền lực nhà nước nhằm đạt mục tiêu.
Quyền lực nhà nước thể hiện ở thẩm quyền và trách nhiệm của hệ thống quản lý (cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế) khi sử dụng các công cụ, nguyên tắc, phương pháp, hình thức quản lý để tác động đến hệ thống bị quản lý (các đối tượng quản lý - tổ chức, cá nhân và các hoạt động kinh tế của họ) nhằm làm cho nền kinh tế vận hành theo định hướng, mục tiêu đã đặt ra. Với các tiếp cận như vậy, trong luận văn này,“Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu có thể được hiểu là toàn bộ các hoạt động quản lý của nhà nước từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách và kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu bằng phương thức, quy trình quản lý nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu diễn ra theo mục tiêu quản lý”. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xăng dầu được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền theo quy định của pháp luật; gồm cơ quan quản lý, giám sát của 10 Nhà nước, các cơ quan nhà nước có liên quan như thanh tra, quản lý thị trường, cơ quan công an, điều tra, tố tụng,… 1. Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế Định hướng, hướng dẫn hoạt động của các chủ thể trao đổi Nhà nước định hướng, hướng dẫn các doanh nghiệp trong các hoạt động đầu tư và kinh doanh trên thị trường nội địa và quốc tế, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cho sự phát triển thương mại.
Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư và nâng cao phúc lợi xã hội. Vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà nước trong lĩnh vực thương mại được thể hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các dự án, kế hoạch và chính sách. Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có cơ sở để tính toán, lựa chọn các quyết định đầu tư và kinh doanh theo các ngành hàng, các nhóm sản phẩm dịch vụ, theo phạm vi thị trường và theo độ dài thời gian cũng như liên kết, liên doanh với các đối tác một cách hợp lý. Để giúp doanh nghiệp có định hướng đầu tư và kinh doanh đúng đắn, các văn bản kế hoạch hoá và chính sách thương mại cũng như pháp luật của nhà nước cần phải minh bạch, rõ ràng, thống nhất và đồng bộ.
Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quan lý nhà nước để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án, và thông hiểu các quyết định của nhà nước. Chất lượng của công cụ kế hoạch hoá, chính sách và bộ máy tổ chức trong quản lý nhà nước về thương mại được tăng cường mới tạo niềm tin, sự yên tâm cho các doanh nghiệp trong tính toán, quyết định phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh. Tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh Môi trường thương mại và cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, luật pháp và thủ tục hành chính. Các thông tin về kế hoạch hoá thương mại nếu bị thiên lệch trong quá trình phổ biến cho các doanh nghiệp, các quy định chính sách nếu phân biệt đối xử sẽ bóp méo cạnh tranh, thủ tục hành chính rườm rà, khung khổ pháp lý nếu không đầy dủ, đồng bộ, nhất quán và minh bạch sẽ gây trở ngại cho thương mại trên nhiều mặt, dẫn đến cả tổn thất về vật chất, tài chính và tinh thần, văn hoá.
Do vậy quản lý Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn có sự vận động biến đổi không ngừng. 11 Nhà nước tạo lập và cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua khai thông các quan hệ thương mại, làm thông thoáng sự giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế, nhờ thiết lập khung khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn và thuận lợi hơn trong lĩnh vực thương mại bao gồm các quy định pháp luật, các chính sách, ký kết các hiệp định, thực hiện các cam kết mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế. Nhà nước vừa ban hành các chính sách, các quy định, vừa chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn cuộc sống của các doanh nghiệp. Trong quá trình đó, nhà nước đã sử dụng quyền lực, sứ mạng và khả năng của mình để kiến tạo môi trường kinh doanh.
Nếu môi trường kinh doanh phù hợp, nghĩa là có sự đồng thuận, thống nhất giữa nhà nước và doanh nghiệp, chính phủ trong trường hợp này đã ủng hộ thị trường, tôn trọng và phát huy tính hiệu quả của thị trường. Để tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh ở mức độ cao hiện nay, nhất là mục tiêu của doanh nghiệp là có nhiều di động, đòi hỏi các nhà quản lý vĩ mô cũng phải đổi mới nhận thức và tư duy về các công cụ, chính sách quản lý, nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất trong việc ra quyết định cũng như phối hợp lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh tế, thương mại. Hỗ trợ các doanh nghiệp và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp thương mại Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đều cần những sự trợ giúp nhất định. Nhà nước bằng quyền lực, trách nhiệm và khả năng của mình hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn của đất nước trong từng thời kỳ.
Nhà nước có thể hỗ trợ cho mọi người dân và doanh nghiệp về ý tưởng kinh doanh, hỗ trợ về kiến thức, về vốn, cơ sở vật chất phương tiện kỹ thuật và thông tin, các hỗ trợ về xúc tiến thương mại, các thủ tục hành chính để giúp doanh nghiệp ở những giai đoạn, những hoàn cảnh và những trường hợp khác nhau trong quá trình hoạt động.