Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tại huyện Tư Nghĩa

Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập

Quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập là hoạt động do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm điều chỉnh, giám sát toàn bộ hệ thống giáo dục mầm non tư thục. Tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, hệ thống giáo dục mầm non ngoài công lập đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân. Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ. Quản lý nhà nước về giáo dục sử dụng pháp luật và chính sách làm công cụ chủ yếu nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong hoạt động giáo dục. Chủ thể quản lý là các cơ quan lập pháp, hành pháp theo quy định Luật Giáo dục. Khách thể là hệ thống giáo dục quốc dân và mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội. Mục tiêu tổng thể là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và hoàn thiện nhân cách công dân.

1.1. Khái niệm cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập

Cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập là đơn vị giáo dục do tổ chức, cá nhân thành lập và đầu tư toàn bộ kinh phí hoạt động. Các cơ sở này được phép hoạt động khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và chương trình giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tại huyện Tư Nghĩa, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập bao gồm trường mầm non tư thục và nhóm trẻ độc lập. Các cơ sở này có vai trò bổ sung quan trọng cho hệ thống mầm non công lập, giúp tăng tỷ lệ trẻ em được đến trường.

1.2. Vai trò của quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục mầm non

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục mầm non đảm bảo sự thống nhất, ổn định và phát triển bền vững của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội. Thông qua hệ thống pháp luật và chính sách, nhà nước thiết lập cơ chế giám sát chất lượng đào tạo, bảo vệ quyền lợi trẻ em. Vai trò quản lý của nhà nước thể hiện ở việc ban hành chủ trương, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ; huy động nguồn lực và thực hiện thanh tra, kiểm tra.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tại huyện Tư Nghĩa

Thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Số lượng cơ sở mầm non tư thục tăng nhanh nhưng chất lượng quản lý chưa đồng đều. Công tác cấp phép, kiểm tra điều kiện hoạt động còn lỏng lẻo ở một số địa phương. Đội ngũ giáo viên tại các cơ sở ngoài công lập chưa ổn định, trình độ chuyên môn chưa đảm bảo theo quy định. Cơ sở vật chất nhiều nhóm trẻ tư thục chưa đạt chuẩn, thiếu trang thiết bị dạy học hiện đại. Công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ chưa được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý giáo dục với chính quyền địa phương còn thiếu chặt chẽ. Phụ huynh học sinh chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát chất lượng dịch vụ giáo dục tại các cơ sở tư thục.

2.1. Những hạn chế trong công tác cấp phép và kiểm tra điều kiện

Công tác cấp phép thành lập cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tại huyện Tư Nghĩa còn nhiều bất cập. Quy trình thẩm định hồ sơ, kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất chưa được thực hiện nghiêm ngặt. Nhiều nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục hoạt động khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc kiểm tra định kỳ sau cấp phép còn mang tính hình thức, chưa phát hiện kịp thời các sai phạm. Sự phối hợp giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trong quản lý cơ sở ngoài công lập chưa đồng bộ.

2.2. Thách thức về đội ngũ giáo viên và chất lượng chăm sóc trẻ

Đội ngũ giáo viên tại các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn huyện Tư Nghĩa đối mặt nhiều thách thức lớn. Tỷ lệ giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn theo quy định còn thấp so với yêu cầu. Mức lương, chế độ đãi ngộ tại cơ sở tư thục chưa hấp dẫn dẫn đến tình trạng giáo viên nghỉ việc, chuyển công tác thường xuyên. Công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên ngoài công lập chưa được quan tâm đúng mức. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại một số cơ sở chưa đảm bảo, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tại huyện Tư Nghĩa đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục mầm non tư thục, tạo khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất để kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực từ gia đình, cộng đồng và các tổ chức kinh tế tham gia đầu tư phát triển giáo dục mầm non. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện, xã thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý giáo dục với chính quyền địa phương và đoàn thể nhân dân. Phát huy vai trò giám sát của phụ huynh học sinh đối với chất lượng dịch vụ giáo dục.

3.1. Hoàn thiện chính sách và tăng cường công tác thanh tra kiểm tra

Hoàn thiện hệ thống chính sách là giải pháp nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Cần ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện hoạt động của cơ sở mầm non ngoài công lập phù hợp với đặc thù địa phương. Tăng cường năng lực cho lực lượng thanh tra chuyên ngành giáo dục tại huyện Tư Nghĩa. Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ kết hợp với kiểm tra đột xuất. Áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh đối với cơ sở vi phạm quy định về an toàn, chất lượng chăm sóc trẻ. Công khai kết quả thanh tra để phụ huynh và xã hội giám sát.

3.2. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và nâng cao năng lực đội ngũ

Xã hội hóa giáo dục là giải pháp quan trọng để huy động nguồn lực phát triển giáo dục mầm non. Sáu nhóm đối tượng cần được huy động tham gia gồm: lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp; gia đình, cha mẹ học sinh; các cơ quan ban ngành; cơ sở sản xuất kinh doanh; bản thân ngành giáo dục; tổ chức quốc tế và cá nhân hảo tâm. Đồng thời, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thường xuyên cho giáo viên ngoài công lập. Cải thiện chế độ lương thưởng, đãi ngộ để thu hút và giữ chân giáo viên có trình độ. Khuyến khích liên kết đào tạo giữa cơ sở công lập và tư thục.

IV. Kết luận và kiến nghị ứng dụng trong quản lý giáo dục mầm non ngoài công lập

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý nhà nước tại địa phương đạt được một số kết quả tích cực song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Hệ thống pháp luật về giáo dục mầm non tư thục đã được xây dựng nhưng việc triển khai thực hiện chưa đồng bộ. Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại. Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất các kiến nghị cụ thể gửi đến các cơ quan quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương. Các kiến nghị tập trung vào hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để huyện Tư Nghĩa và tỉnh Quảng Ngãi nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục mầm non ngoài công lập.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc hệ thống hóa lý luận về quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non ngoài công lập. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý, từ đó đề xuất mô hình quản lý phù hợp với điều kiện địa phương. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy về thực trạng quản lý giáo dục mầm non tư thục tại huyện Tư Nghĩa. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, có thể áp dụng tại các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng.

4.2. Kiến nghị với các cơ quan quản lý giáo dục các cấp

Kiến nghị gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục mầm non ngoài công lập, ban hành quy chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cần tăng cường đầu tư hạ tầng, bố trí nguồn lực cho công tác quản lý giáo dục mầm non. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tư Nghĩa cần kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ quản lý, tăng cường thanh kiểm tra. Chính quyền các xã, thị trấn cần phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục trong quản lý cơ sở tư thục. Phụ huynh học sinh cần phát huy vai trò giám sát chất lượng dịch vụ giáo dục tại các nhóm trẻ, trường mầm non tư thục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn huyện tư nghĩa tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Giáo dục, giáo dục mầm non, giáo dục mầm non ngoài công lập Giáo dục Hiện nay, các nhà nghiên cứu về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày khá phổ biến: “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [35, tr.

Giáo dục là hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều điện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích phát triển xã hội. Về nghĩa rộng: giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, kĩ năng lao động…). Quá trình giáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trong nhà trường còn được gọi là quá trình sư phạm tổng thể, bao gồm hai quá trình bộ phận, đó là quá trình dạy học và quá trình giáo dục [34, tr.

Về nghĩa hẹp: giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho học ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội. Với nghĩa hẹp, khái niệm giáo dục được đặt 12 ngang hàng với khái niệm dạy học. Khái niệm giáo dục nghĩa hẹp đề cập tới quá trình giáo dục các phẩm chất đạo đức, hành vi, lối sống cho học sinh, ta vẫn quen gọi là “hạnh kiểm” [34, tr. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội.

Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại. Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội. Giáo dục mầm non - Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến 6 tuổi.

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học. Phương pháp chủ yếu trong giáo dục mầm non là thông qua các hoạt động tổ chức vui chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ [13, tr. - Giáo dục mầm non gồm hai giai đoạn chủ yếu là giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo: + Giáo dục nhà trẻ: Là giai đoạn đầu của giáo dục mầm non tiếp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi.

Nội dung giáo dục nhà trẻ là chăm sóc sức khỏe, giữ gìn vệ sinh cho trẻ, giúp trẻ hình 13 thành các hiểu biết và thói quen ban đầu; phát triển ngôn ngữ, biết giữ trật tự, vệ sinh, ăn ngủ đúng giờ, giữ sạch quần áo, giao tiếp với bạn bè và người lớn, phát triển trí tuệ thông qua phát triển các trò chơi, đồ vật, chuyện kể, đọc thơ, múa hát v.v… Hình thức tổ chức giáo dục nhà trẻ, nhóm trẻ do các cô nuôi dạy trẻ đảm nhận toàn bộ công việc chăm sóc và giáo dục. Giáo dục nhà trẻ cần coi trọng khâu nuôi dưỡng để đảm bảo cho trẻ khỏe mạnh, phát triển hài hòa. + Giáo dục mẫu giáo: là giai đoạn cuối của giáo dục mầm non tiếp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi. Mục tiêu của giáo dục mẫu giáo là giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một.

Ngoài phần nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe để trẻ em phát triển cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, giáo dục mẫu giáo dạy cho trẻ biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; biết yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên; yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học. Phương pháp chủ yếu trong mẫu giáo là chơi mà học, học mà chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương động viên, khích lệ. Hình thức tổ chức giáo dục mẫu giáo là trường, lớp mẫu giáo trong các điểm dân cư. Cơ sở giáo dục mầm non Cơ sở GDMN hiện nay bao gồm những mô hình tổ chức hoạt động sau: - Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ. 14 - Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Sự tham gia của các lực lượng xã hội vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình cơ sở GDMN góp phần làm cho mọi trẻ em được hưởng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục toàn diện. Chính sự tham gia của các lực lượng vào GDMN làm GDMN gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích cộng đồng.

Cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập - Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục là cơ sở giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. - Nhà trường, nhà trẻ tư thục, có tư cách pháp nhân, con dấu và được mở tài khoản riêng, có những nhiệm vụ, quyền hạn sau: + Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; + Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; + Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em; + Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật. Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng khó khăn; 15 + Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng; + Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; + Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội; + Có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định và yêu cầu của các cơ quan có liên quan; + Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Quản lý, Quản lý nhà nước về giáo dục, Quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập Quản lý Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Xuất phát từ mỗi cách tiếp cận, khái niệm “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa khác nhau: - Theo nghĩa Việt gốc Hán: Thuật ngữ “quản lý” đã lột tả được bản chất hoạt động quản lý trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình là “quản” và “lý” được tích hợp vào nhau.

Quá trình “quản” bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” là sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển. Nếu người đứng đầu chỉ chăm lo đến việc “quản” tức là chăm lo đến việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức đó sẽ trì trệ, không phát triển được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ