CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế 1. Khái niệm cán bộ, công chức quản lý kinh tế Hiện các quốc gia trên thế giới đều cho rằng ĐNCB, CC là khái niệm dùng để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước hay cơ quan công quyền.
Tuy nhiên mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình một khái niệm riêng về ĐNCB, CC với tiêu chuẩn riêng phù hợp với hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa. Ở Việt Nam từ khi Luật CB, CC ban hành thì việc nhận diện ĐNCB, CC rõ nét hơn, cụ thể tại Điều 4, Luật CB, CC nhận định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [34]. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CB, CC và Luật viên chức số 52/2019/QH14 thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, 5 trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [35]. Như vậy, cán bộ và công chức ở Việt Nam vừa có điểm tương đồng, nhưng cũng có điểm khác nhau.
Điểm tương đồng thể hiện ở chỗ CB, CC họ là những công dân Việt Nam được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước hay cơ quan công quyền tương ứng với từng vị trí việc làm và điều hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, điểm khác nhau là đội ngũ cán bộ là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương, cấp địa phương. Còn đội ngũ công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Như vậy, ĐNCB, CC là khái niệm dùng để chỉ những công dân Việt Nam làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, giữ các chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
ĐNCB, CC quản lý kinh tế là tập hợp những công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào làm việc trong biên chế chính thức của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN về kinh tế, được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc do Nhà nước quy định và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đối với ĐNCB, CC quản lý kinh tế họ là những người làm việc trong cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nhiệm vụ quản lý về kinh tế. Trong giới hạn nghiên cứu của đề án xây dựng ĐNCB, CC quản lý kinh tế ở thị xã An Nhơn, gồm: - CB, CC quản lý kinh tế của thị xã gồm: 6 Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, trưởng, phó các ban của HĐND thị xã; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND thị xã; CB, CC làm việc trong các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng QLNN về kinh tế của thị xã bao gồm: Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Kinh tế, Phòng Nội vụ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tư pháp, Phòng Quản lý đô thị, Thanh tra thị xã. - CB, CC quản lý kinh tế của các xã, phường gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND của các xã, phường; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND của các xã, phường; Công chức của các xã, phường thực hiện chức năng QLNN về kinh tế bao gồm: công chức Văn phòng - Thống kê; công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã); công chức Tài chính - Kế toán; công chức Tư pháp - Hộ tịch; công chức Văn hóa - Xã hội.
Xây dựng ĐNCB, CC quản lý kinh tế là hoạt động có chủ đích, hướng đích, được thực hiện bởi chủ thể lãnh đạo, quản lý nhằm tác động lên khách thể là CB, CC quản lý kinh tế để đạt được mục tiêu đã xác định. Đó là chủ thể tiến hành các hoạt động như: Kế hoạch hóa ĐNCB, CC quản lý kinh tế; Tuyển dụng ĐNCB, CC quản lý kinh tế; Đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB, CC quản lý kinh tế; Bố trí, sử dụng ĐNCB, CC quản lý kinh tế; Thực hiện chế độ ĐNCB, CC quản lý kinh tế; Kiểm tra, đánh giá ĐNCB, CC quản lý kinh tế. Vai trò và đặc điểm của cán bộ, công chức quản lý kinh tế 1. Vai trò của cán bộ, công chức quản lý kinh tế Trong hoạt động QLNN nói chung và hoạt động QLNN về kinh tế nói riêng thì nhân tố con người là một trong những yếu tố có tính chất quyết định 7 đến hiệu lực, hiệu quả hay thất bại của quá trình quản lý.
Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn thì yếu tố con người được coi là yếu tố quan trọng nhất vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của sự phát triển xã hội, đồng thời con người cũng là mục đích của hoạt động quản lý. Trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của mọi sự thay đổi vì nó được xem là nguồn lực quan trọng khai thông mọi nguồn lực khác. CB, CC quản lý kinh tế là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Sự vận hành của hệ thống các chính sách và công cụ quản lý kinh tế vĩ mô được tiến hành trong khuôn khổ hệ thống thể chế và phụ thuộc vào bộ máy hoạt động của nhà nước.
CB, CC quản lý kinh tế là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân và các tổ chức kinh tế. Họ là người thực thi quyền hành pháp, trực tiếp điều hành các hoạt động, thực thi nhiệm vụ liên quan đến kinh tế được cấp trên giao và chịu trách nhiệm trước pháp luật. CB, CC quản lý kinh tế là một bộ phận quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chức năng QLNN về kinh tế, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là những người luôn được quán triệt, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về kinh tế; có kiến thức về chuyên môn, năng lực tham mưu, tư vấn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
CB, CC quản lý kinh tế phát hiện và dự báo những cơ hội, khó khăn, thách thức về phát triển kinh tế - xã hội trong hiện tại và tương lai. Dựa vào các nguồn lực, điều kiện kinh tế - xã hội, tiềm năng như: dân số, lao động, việc làm, phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tham mưu cho chính quyền địa phương xây dựng định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho từng ngành, lĩnh vực, đưa ra các giải pháp huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương, nhất 8 là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, một bộ phận cán bộ tham gia vào hình thành tổ chức bộ máy và tham gia trực tiếp, thực hiện có hiệu quả những chức năng, nhiệm vụ quản lý kinh tế về kinh tế. Vậy mỗi CB, CC quản lý kinh tế không chỉ có vai trò quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách đó mà còn có trách nhiệm hiểu rõ, nắm bắt kịp thời khả năng, mức độ, hiệu quả của chủ trương, chính sách, pháp luật khi đi vào cuộc sống; kịp thời động viên, định hướng nhân dân hoàn thành nhiệm vụ hoặc tham mưu, tư vấn cho các cấp ủy đảng, chính quyền cấp trên sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đặc điểm của cán bộ, công chức quản lý kinh tế Thứ nhất, CB, CC quản lý kinh tế là những người am hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như nắm bắt tình hình trật tự, an toàn xã hội của địa phương, có quan hệ mật thiết, chặt chẽ với đời sống của nhân dân và các tổ chức kinh tế; hiểu thấu đáo đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn chủ trương, chính sách đó vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Thứ hai, CB, CC quản lý kinh tế là những người trực tiếp tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế mà cấp trên giao. CB, CC thực hiện công vụ nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội theo thẩm quyền và quy định pháp luật. Khi thực thi công vụ, CB, CC quản lý kinh sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế.
Trực tiếp, từng cán bộ sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý kinh tế do cá nhân phụ trách.