Luận văn Thạc sĩ: Quản lý về trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn TP. Pleiku, Gia Lai

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý kinh tế và trật tự xây dựng đô thị tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, đề xuất giải pháp cải thiện.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn về quản lý trật tự xây dựng đô thị tại Pleiku

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Nghiên cứu này ra đời từ tính cấp thiết của việc kiểm soát các hoạt động xây dựng, vốn đang đối mặt nhiều thách thức như xây dựng không phép, sai phép, phá vỡ quy hoạch chung. Mục tiêu chính của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng quản lý trật tự xây dựng tại Pleiku trong giai đoạn 2014-2018, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý trật tự xây dựng đô thị khả thi. Nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang giá trị thực tiễn to lớn, góp phần giúp chính quyền địa phương Pleiku thực hiện mục tiêu đưa thành phố trở thành đô thị loại I. Bằng cách sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan nhà nước và dữ liệu sơ cấp qua khảo sát 237 mẫu, công trình đã đưa ra một cái nhìn khách quan về những thành tựu và hạn chế trong công tác quản lý đất đai và xây dựng, tạo tiền đề cho các chính sách phát triển đô thị hiệu quả hơn trong tương lai.

1.1. Tính cấp thiết của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng

Sự phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại Việt Nam nói chung và Pleiku nói riêng đã kéo theo nhiều hệ lụy phức tạp. Luận văn của tác giả Đặng Thị Xuân Mai (2020) chỉ rõ, tình trạng xây dựng không phép, sai phép với nội dung giấy phép, san lấp, phân lô, bán nền trái quy định diễn ra ngày càng phức tạp. Điều này không chỉ gây mất mỹ quan đô thị, phá vỡ quy hoạch đô thị Pleiku mà còn tạo ra áp lực lớn lên hạ tầng kỹ thuật đô thị và gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển đô thị bền vững, có trật tự. Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trật tự xây dựng là một yêu cầu cấp bách, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn quản lý công

Luận văn đặt ra ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị. Thứ hai, đánh giá khách quan thực trạng quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Pleiku. Thứ ba, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý này. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý trật tự xây dựng, nhìn từ góc độ của cơ quan quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và về thời gian, dữ liệu được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018. Đây là một công trình tiêu biểu trong lĩnh vực luận văn quản lý công, tập trung giải quyết một vấn đề thực tiễn của địa phương.

II. Phân tích thực trạng quản lý trật tự xây dựng ở Pleiku

Thành phố Pleiku, trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai, đang trải qua giai đoạn phát triển năng động với tốc độ đô thị hóa nhanh (đạt 7,78%/năm giai đoạn 2014-2018). Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sự gia tăng dân số đã tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở và các công trình xây dựng. Tuy nhiên, thực tiễn này cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng. Luận văn đã chỉ ra bức tranh tổng thể về thực trạng quản lý trật tự xây dựng tại Pleiku, bao gồm cả những thành công và hạn chế. Một mặt, UBND thành phố Pleiku và các cơ quan chuyên môn đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành văn bản, tuyên truyền pháp luật và thực hiện cấp phép xây dựng tại Gia Lai. Mặt khác, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong xây dựng vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng xây dựng không phép, sai phép vẫn diễn ra, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quy hoạch chung và chất lượng sống của người dân. Các số liệu trong luận văn cho thấy, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng hiệu quả quản lý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá và đồng bộ hơn.

2.1. Tác động kinh tế xã hội và tốc độ đô thị hóa tại Pleiku

Theo dữ liệu từ Chi cục Thống kê thành phố Pleiku (2018), kinh tế thành phố chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng thương mại-dịch vụ chiếm 50,2%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 39,1 triệu đồng. Sự phát triển này, cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, là nguyên nhân chính thúc đẩy hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, những yếu tố này cũng tạo ra áp lực lớn. Luận văn chỉ ra rằng, việc quản lý không theo kịp tốc độ phát triển dẫn đến tình trạng sử dụng đất sai mục đích, phá vỡ quy hoạch. Đây là một trong những tác động kinh tế xã hội tiêu cực, đòi hỏi công tác quản lý phải có tầm nhìn xa hơn, gắn liền với các chính sách phát triển đô thị dài hạn.

2.2. Hạn chế trong công tác cấp phép và xử lý vi phạm xây dựng

Mặc dù quy trình cấp phép xây dựng tại Gia Lai đã được cải thiện, luận văn chỉ ra rằng người dân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin quy hoạch. Bảng 2.5 của luận văn thống kê tình hình vi phạm trật tự xây dựng, cho thấy số vụ việc vẫn còn ở mức đáng báo động. Công tác thanh tra, kiểm tra còn mỏng, chưa bao quát hết địa bàn. Việc xử lý vi phạm trong xây dựng đôi khi chưa kiên quyết, thiếu triệt để, dẫn đến tình trạng nhờn luật. Năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý đô thị còn hạn chế, sự phối hợp giữa các phòng ban và chính quyền xã, phường chưa thực sự đồng bộ, là những nguyên nhân chính dẫn đến các hạn chế này.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách quy hoạch đô thị Pleiku

Để giải quyết những tồn tại trong thực trạng quản lý trật tự xây dựng, luận văn đã đề xuất một nhóm các giải pháp mang tính chiến lược, tập trung vào việc hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng quy hoạch. Nền tảng của một đô thị phát triển có trật tự chính là một hệ thống văn bản pháp quy rõ ràng, minh bạch và một tầm nhìn quy hoạch khoa học, phù hợp với thực tiễn. Theo đó, việc rà soát, bổ sung và điều chỉnh các quy định liên quan đến quản lý xây dựng là yêu cầu tiên quyết. Các quy định cần được cụ thể hóa, dễ hiểu, dễ áp dụng để cả người dân và doanh nghiệp đều có thể tuân thủ. Song song đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo để nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Đặc biệt, chất lượng của quy hoạch đô thị Pleiku cần được nâng lên một tầm cao mới, đảm bảo tính đồng bộ giữa quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Một bản quy hoạch tốt sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động xây dựng, góp phần vào mục tiêu phát triển đô thị bền vững.

3.1. Cải cách chính sách phát triển đô thị và văn bản pháp quy

Luận văn đề xuất UBND thành phố PleikuSở Xây dựng Gia Lai cần chủ động rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Cần loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn và bổ sung các quy định mới phù hợp với Luật Xây dựng 2014 và các nghị định hướng dẫn. Các chính sách phát triển đô thị cần tích hợp các yếu tố về môi trường, kinh tế và xã hội để đảm bảo tính bền vững. Việc công khai, minh bạch hóa các văn bản pháp luật và quy hoạch trên các cổng thông tin điện tử là giải pháp quan trọng để người dân dễ dàng tiếp cận.

3.2. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch

Chất lượng quy hoạch là gốc rễ của trật tự xây dựng. Giải pháp được đưa ra là cần đầu tư nguồn lực để lập các quy hoạch chi tiết 1/500 cho tất cả các khu vực đô thị, làm cơ sở vững chắc cho việc cấp phép xây dựng tại Gia Lai. Công tác lập quy hoạch phải có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là lấy ý kiến rộng rãi từ cộng đồng. Quản lý sau quy hoạch cũng cần được chú trọng, đảm bảo mọi công trình xây dựng đều tuân thủ nghiêm ngặt theo quy hoạch đã được phê duyệt, ngăn chặn từ gốc các hành vi vi phạm.

IV. Cách nâng cao hiệu quả cấp phép và thanh tra xây dựng

Bên cạnh các giải pháp về chính sách vĩ mô, việc cải thiện các quy trình tác nghiệp hàng ngày là yếu tố quyết định đến hiệu quả quản lý trật tự xây dựng đô thị. Luận văn tập trung đề xuất các phương pháp cụ thể nhằm tối ưu hóa công tác cấp phép và tăng cường hiệu lực của hoạt động thanh tra, kiểm tra. Quy trình cấp phép xây dựng tại Gia Lai cần được đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tăng cường tính minh bạch. Một hệ thống cấp phép hiệu quả sẽ khuyến khích người dân tuân thủ pháp luật thay vì tìm cách xây dựng chui, xây dựng không phép, sai phép. Đồng thời, hoạt động thanh tra, kiểm tra phải được tổ chức lại một cách khoa học hơn. Cần xây dựng kế hoạch thanh tra định kỳ và đột xuất, phân công rõ trách nhiệm cho từng cấp, từng cá nhân. Việc xử lý vi phạm trong xây dựng phải được thực hiện nghiêm minh, công bằng, không có vùng cấm. Cuối cùng, yếu tố con người là then chốt. Việc nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý đô thị và phát huy vai trò của cộng đồng trong giám sát là hai trụ cột quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý.

4.1. Tối ưu hóa thủ tục hành chính trong cấp giấy phép xây dựng

Giải pháp cốt lõi là xây dựng quy trình "một cửa liên thông" trong việc cấp giấy phép xây dựng. Ứng dụng phần mềm quản lý để người dân có thể nộp hồ sơ và theo dõi tiến độ trực tuyến. Luận văn nhấn mạnh việc cần công khai toàn bộ thủ tục, thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết và lệ phí. Điều này giúp giảm thiểu tiêu cực, phiền hà cho người dân. Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của người dân (Hình 2.9) là cơ sở để đánh giá và liên tục cải tiến quy trình này.

4.2. Tăng cường thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm triệt để

Cần thành lập các đội thanh tra liên ngành, phối hợp chặt chẽ giữa Sở Xây dựng Gia Lai, Phòng Quản lý đô thị thành phố và UBND các xã, phường. Áp dụng công nghệ như flycam, GIS để giám sát các hoạt động xây dựng trên địa bàn. Mọi hành vi vi phạm khi bị phát hiện phải được lập biên bản và ra quyết định xử phạt kịp thời theo Nghị định 139/2017/NĐ-CP. Việc cưỡng chế, tháo dỡ các công trình vi phạm phải được thực hiện kiên quyết để lập lại kỷ cương, tránh tạo tiền lệ xấu.

4.3. Nâng cao năng lực cán bộ và vai trò giám sát của cộng đồng

Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý đô thị. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả công việc dựa trên kết quả cụ thể. Song song đó, cần phát huy vai trò của cộng đồng thông qua các tổ tự quản, mặt trận tổ quốc. Thiết lập các kênh thông tin như đường dây nóng, ứng dụng di động để người dân có thể phản ánh kịp thời các trường hợp vi phạm trật tự xây dựng, tạo ra một mạng lưới giám sát toàn dân hiệu quả.

V. Hướng tới phát triển đô thị bền vững cho thành phố Pleiku

Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị là nhằm kiến tạo một không gian sống chất lượng, an toàn và bền vững cho người dân. Các giải pháp được đề xuất trong luận văn không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn là phát triển đô thị bền vững cho thành phố Pleiku. Việc lập lại trật tự trong xây dựng sẽ giúp bảo vệ và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị một cách đồng bộ, tránh tình trạng quá tải. Một đô thị có quy hoạch tốt và được quản lý nghiêm túc sẽ tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy tác động kinh tế xã hội tích cực, nâng cao giá trị bất động sản và cải thiện đời sống người dân. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần có sự quyết tâm chính trị mạnh mẽ từ chính quyền địa phương Pleiku, sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng như Sở Xây dựng Gia Lai, và quan trọng nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ cộng đồng. Việc thực thi hiệu quả các giải pháp quản lý sẽ là nền tảng vững chắc để Pleiku không chỉ trở thành đô thị loại I mà còn là một thành phố xanh, sạch, đẹp và đáng sống.

5.1. Định hướng chính sách cho Pleiku trở thành đô thị loại I

Để đạt mục tiêu trở thành đô thị loại I, Pleiku cần một chiến lược phát triển toàn diện. Các chính sách phát triển đô thị trong giai đoạn tới phải ưu tiên đầu tư cho hạ tầng khung, các công trình công cộng và không gian xanh. Công tác quản lý trật tự xây dựng phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên. Việc áp dụng các mô hình quản lý đô thị thông minh, chính quyền điện tử sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ người dân tốt hơn.

5.2. Kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Luận văn đưa ra các kiến nghị cụ thể. Đối với UBND thành phố Pleiku, cần chỉ đạo quyết liệt việc rà soát quy hoạch và xử lý dứt điểm các công trình vi phạm tồn đọng. Đối với Sở Xây dựng Gia Lai, cần tăng cường hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và phối hợp thanh tra, kiểm tra. Các cấp chính quyền cần xây dựng một cơ chế phối hợp hiệu quả, quy định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn, đảm bảo tính đồng bộ và nhất quán từ thành phố đến từng xã, phường.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước trật tự đô thị Chương 2: Thực trạng quản lý trật tự đô thị - Trật tự xây dựng trên địa bàn thành phó Pleiku Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Pleiku 14 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Một số khái niệm Các khái niệm có liên quan trong quản lý trật tự xây dựng đô thị gồm: > Quy hoạch đô thị chung xây dựng đô thị Theo Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng,quy định cụ thẻ về lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng gồm: Quy hoạch xây dựng vùng: quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù; quy hoạch xây dựng nông thôn. Các vùng liên tỉnh (bao gồm cả vùng đô thị lớn), vùng chức năng đặc thù, vùng dọc tuyến đường cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh được lập quy hoạch xây dựng vùng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở đề it cia Bộ xây dựng, phù hợp với chiến lược, quy hoạch tông thể phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng yêu cầu quản lý, đảm bảo phân bố nguồn lực quốc gia có hiệu quả.

Các vùng tỉnh được lập quy hoạch xây dựng vùng làm cơ sở lập quy hoạch xây dựng vùng huyện, vùng liên huyện, quy hoạch chung đô thị và quy hoạch xây dựng các khu chức năng đặc thù trong tỉnh. > Quy hoạch xây dựng: Là việc tô chức hoặc định hướng tổ chức không. gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sóng thích hợp cho người dân sống trong các vùng lãnh thổ „ đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. > Quy hoạch đô thị: Là việc tô chức không gian kiến trúc, cảnh quan đô.

thị, hệ công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi 15 trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông. qua đồ án quy hoạch. > Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung > Quy hoạch chỉ tiết xây dựng đô thị là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đắt, bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung Cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cắp GPXD công trình giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án xây dựng công trình. > Thiết kế đô thị là việc cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung, quy.

hoạch chỉ tiết xây dựng đô thị về kiến trúc các công trình trong đô thị, cảnh quan cho từng khu chức năng, tuyến phố và khu không gian công cộng khác trong khu đô thị. > Chỉ giới xây dựng: là đường giới hạn cho phép xây dựng nhà, công trình trên lô đất. > Chỉ giới đường đỏ: là đường ranh giới phân định giữa phần lô dat dé xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc các công trình kỹ thuật hạ tầng. > Ban công: là các mặt sàn chịu lực được làm nhô ra khỏi mặt nhà, tạo điều kiện để người sử dụng có thể tiếp cận dễ dàng với không gian thoáng bên ngoài, tiếp cận cây xanh, tạo tầm nhìn rộng.

> Quan lý quy hoạch xây dựng đô thị: là tổng thẻ các biện pháp cách thức mà chính quyền đô thị vận dụng các công cụ quản lý để tác động vào các 16 hoạt động xây dựng và phát triển đô thị (chủ yếu là phát triển không gian vật thể) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Quy hoạch xây dựng đô thị phải đảm bảo với quy hoạch tổng thẻ phát triển quy hoạch phát triển các ngành khác, quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch chỉ tiết đô thị phải phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng; đảm bảo quốc phòng an ni ; tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội. Quy hoạch xây dựng đô thị phải tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đắt đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Quy hoạch xây dung đô thị tạo lập được môi trường sống tiện nghĩ an toàn và bền vững, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.

Quy hoạch xây dựng là căn cứ xác lập được cơ sở cho công tác kế hoạch quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng quản lý khai thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị. Quy hoạch xây dựng đô thị được thể hiện dưới dạng các bản vẽ, các quy chế và thường được ban hành để áp dụng trong một giai đoạn nhất định. [9] > Dé thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao. và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phó; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị 17 > Trật tự xây dựng đô thị là các công trình xây dựng đảm bảo đúng nội dung Giấy phép xây dựng đã được cấp, phù hợp quy hoạch chung đã được phê duyệt và xây dựng không ảnh hưởng đến công trình lân cận.

[1 1] > Quản lý nhà nước Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học đều đưa ra góc nhìn riêng của mình về khái niệm riêng về quản lý. Thông thường và phổ biến có thể hiểu quản lý là hoạt động tác động một cách có tô chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã đề ra. Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống, căn cứ vào đúng những nguyên tắc tương ứng để hệ thống ấy vận hành theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước.

Quản lý ra đời nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công việc. Quản lý con người, quản lý xã hội theo định hướng đã được đề ra nhằm phát huy cao nhất khả năng của con người, ồn định phát triển xã hội. Mục đích quản lý cái mục đích do chủ thể quản ly dé ra va day là căn cứ đẻ chủ thể quản lý tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội. Quản lý nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện thì hầu hết các công việc, quan hệ của xã hội đều do Nhà nước quản lý.

Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chắn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước. 18 Trường cán bộ thanh tra (2009) Giáo trình một số vấn đề về quản lý nhà nước Hà Nội thì Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội Có thể nói quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền hạn Nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối ngoại, đối nội của nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước (Đỗ Hoàng Toàn (2005), Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất nhiều lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, xây dựng, an ninh quốc phòng.

> Quan lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Bằng những quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng và của nhà nước nói chung, mọi hoạt động xây dựng trong đô thị phải thực hiện đúng trật tự, đúng quy định quy chuẩn cụ thể mà cơ quản quản lý nhà nước đề ra. Hay nói các khác quản lý trật tự xây dựng đô thị cũng là việc đi kiểm tra, những công trình xây dựng trên địa bàn không đúng nội dung GPXD, đúng quy hoạch kiến trúc đã phê duyệt, không có GPXD và các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật (Nguyễn Ngọc Châu (2012). Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là hoạt động quy hoạch, cấp phép, kiểm tra, thanh tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo đúng thâm quyền và đúng quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến trật tự xây xựng nhằm đảm bảo tắt cả tổ chức cá nhân đều xây dựng công trình đô thị phù hợp với quy hoạch tông thể và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát triển mỹ quan đô thị theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ