Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước trật tự đô thị Chương 2: Thực trạng quản lý trật tự đô thị - Trật tự xây dựng trên địa bàn thành phó Pleiku Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Pleiku 14 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Một số khái niệm Các khái niệm có liên quan trong quản lý trật tự xây dựng đô thị gồm: > Quy hoạch đô thị chung xây dựng đô thị Theo Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng,quy định cụ thẻ về lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng gồm: Quy hoạch xây dựng vùng: quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù; quy hoạch xây dựng nông thôn. Các vùng liên tỉnh (bao gồm cả vùng đô thị lớn), vùng chức năng đặc thù, vùng dọc tuyến đường cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh được lập quy hoạch xây dựng vùng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở đề it cia Bộ xây dựng, phù hợp với chiến lược, quy hoạch tông thể phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng yêu cầu quản lý, đảm bảo phân bố nguồn lực quốc gia có hiệu quả.
Các vùng tỉnh được lập quy hoạch xây dựng vùng làm cơ sở lập quy hoạch xây dựng vùng huyện, vùng liên huyện, quy hoạch chung đô thị và quy hoạch xây dựng các khu chức năng đặc thù trong tỉnh. > Quy hoạch xây dựng: Là việc tô chức hoặc định hướng tổ chức không. gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sóng thích hợp cho người dân sống trong các vùng lãnh thổ „ đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. > Quy hoạch đô thị: Là việc tô chức không gian kiến trúc, cảnh quan đô.
thị, hệ công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi 15 trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông. qua đồ án quy hoạch. > Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung > Quy hoạch chỉ tiết xây dựng đô thị là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đắt, bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung Cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cắp GPXD công trình giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án xây dựng công trình. > Thiết kế đô thị là việc cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung, quy.
hoạch chỉ tiết xây dựng đô thị về kiến trúc các công trình trong đô thị, cảnh quan cho từng khu chức năng, tuyến phố và khu không gian công cộng khác trong khu đô thị. > Chỉ giới xây dựng: là đường giới hạn cho phép xây dựng nhà, công trình trên lô đất. > Chỉ giới đường đỏ: là đường ranh giới phân định giữa phần lô dat dé xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc các công trình kỹ thuật hạ tầng. > Ban công: là các mặt sàn chịu lực được làm nhô ra khỏi mặt nhà, tạo điều kiện để người sử dụng có thể tiếp cận dễ dàng với không gian thoáng bên ngoài, tiếp cận cây xanh, tạo tầm nhìn rộng.
> Quan lý quy hoạch xây dựng đô thị: là tổng thẻ các biện pháp cách thức mà chính quyền đô thị vận dụng các công cụ quản lý để tác động vào các 16 hoạt động xây dựng và phát triển đô thị (chủ yếu là phát triển không gian vật thể) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Quy hoạch xây dựng đô thị phải đảm bảo với quy hoạch tổng thẻ phát triển quy hoạch phát triển các ngành khác, quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch chỉ tiết đô thị phải phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng; đảm bảo quốc phòng an ni ; tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội. Quy hoạch xây dựng đô thị phải tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đắt đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Quy hoạch xây dung đô thị tạo lập được môi trường sống tiện nghĩ an toàn và bền vững, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.
Quy hoạch xây dựng là căn cứ xác lập được cơ sở cho công tác kế hoạch quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng quản lý khai thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị. Quy hoạch xây dựng đô thị được thể hiện dưới dạng các bản vẽ, các quy chế và thường được ban hành để áp dụng trong một giai đoạn nhất định. [9] > Dé thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao. và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phó; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị 17 > Trật tự xây dựng đô thị là các công trình xây dựng đảm bảo đúng nội dung Giấy phép xây dựng đã được cấp, phù hợp quy hoạch chung đã được phê duyệt và xây dựng không ảnh hưởng đến công trình lân cận.
[1 1] > Quản lý nhà nước Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học đều đưa ra góc nhìn riêng của mình về khái niệm riêng về quản lý. Thông thường và phổ biến có thể hiểu quản lý là hoạt động tác động một cách có tô chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã đề ra. Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống, căn cứ vào đúng những nguyên tắc tương ứng để hệ thống ấy vận hành theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước.
Quản lý ra đời nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công việc. Quản lý con người, quản lý xã hội theo định hướng đã được đề ra nhằm phát huy cao nhất khả năng của con người, ồn định phát triển xã hội. Mục đích quản lý cái mục đích do chủ thể quản ly dé ra va day là căn cứ đẻ chủ thể quản lý tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội. Quản lý nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện thì hầu hết các công việc, quan hệ của xã hội đều do Nhà nước quản lý.
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chắn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước. 18 Trường cán bộ thanh tra (2009) Giáo trình một số vấn đề về quản lý nhà nước Hà Nội thì Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội Có thể nói quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền hạn Nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối ngoại, đối nội của nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước (Đỗ Hoàng Toàn (2005), Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất nhiều lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, xây dựng, an ninh quốc phòng.
> Quan lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Bằng những quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng và của nhà nước nói chung, mọi hoạt động xây dựng trong đô thị phải thực hiện đúng trật tự, đúng quy định quy chuẩn cụ thể mà cơ quản quản lý nhà nước đề ra. Hay nói các khác quản lý trật tự xây dựng đô thị cũng là việc đi kiểm tra, những công trình xây dựng trên địa bàn không đúng nội dung GPXD, đúng quy hoạch kiến trúc đã phê duyệt, không có GPXD và các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật (Nguyễn Ngọc Châu (2012). Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là hoạt động quy hoạch, cấp phép, kiểm tra, thanh tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo đúng thâm quyền và đúng quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến trật tự xây xựng nhằm đảm bảo tắt cả tổ chức cá nhân đều xây dựng công trình đô thị phù hợp với quy hoạch tông thể và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát triển mỹ quan đô thị theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt.