CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE HOAT DONG THUONG MAI 1. NHỮNG VAN DE CHUNG VE QUAN LÝ NHA NUGC VE HOAT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, phân loại hoạt động thương mại a. Khai niệm thương mại và hoạt động thương mại Thương mại là một trong những hoạt động cơ bản của các chủ thể kinh tế, được hình thành và phát triển khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định.
Quá trình từ sản xuất đến phân phối, cung cấp hàng hóa, dịch vụ. cho người tiêu ding, ci nha sản xuất và các lực lượng trung gian bán hàng đều tìm kiếm lợi nhuận, được gọi chung là hoạt động kinh doanh thương mại. Như vậy, kinh doanh và thương mại là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau, một số nội dung để phân biệt như sau: Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh" được hiểu là tổ chức sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời [7]. Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đẫu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trưởng nhằm mục dich sinh lai” (14, Điều 4].
Bên cạnh các khái niệm về kinh doanh, khái niệm thương mại cũng được tiếp cận dựa trên các tiêu chí khác nhau Trong Giáo trình Kinh tế thương mại [5], tác giả đã chỉ ra rằng, khái niệm thương ‘An duge hiểu theo cả nghĩa rộng va nghĩa hẹp. “Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như các hoạt đông kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị 10 trường [5, Tr 6]. “Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa [5, Tr 6] Trong Giáo trình Quản lý nhà nước về thương mại, tác giả Thân Danh Phúc cho rằng: “Thương mại hay hoạt động thương mại là một loại hoạt động.
kinh tế, bao gằm hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân, hoạt động mua các yếu tổ đầu vào và bán sản phẩm hàng hóa ở đầu ra của nhà sản , hoạt động mua hàng hóa của người tiêu dùng và các dịch vụ thương mại khác” [9, Tr 25]. Trong đó, thương nhân là người chuyên mua hàng để bán kiểm lời một cách độc lập, thường xuyên. Tiếp cận theo phạm vi của các ngành kinh tế: “Thương mại được hiễu là một lĩnh vực kinh tế của nên kinh tế. quốc dân, được cấu trúc bởi hệ thống thương nhân (tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên)” (9, Tr 26].
Xét theo quá trình hoạt động kinh tế: “hương mại là một khâu của quá. trình tái sản xuất xã hội, nên luôn có sự tương tác hoạt động với các ngành thuộc khâu phân phối, lưu thông (như tài chính, ngân hàng, giá cả và các. ngành dịch vụ khác), với các ngành sản xuất hàng hóa vật chất như nông nghiệp, công nghiệp và tiêu dùng. Chức năng thương mại trong trường hop này là liên kết, nỗi liền sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy tái sản xuất xã hội phát triển (trong phạm vi quốc gia, cũng như khu vực hoặc toàn cẳu)" [9, Tr 26].
Trên thực tế, các quốc gia trên thể giới có những cách hiểu khác nhau. về thương mại. Điều đó gây cản trở trong giải quyết các vấn đề thương mại khi hội nhập kinh tế quốc tế. Vì lẽ đó, cần phải thống nhất luật pháp quốc gia.
với luật pháp quốc tế trong cách hiểu về thương mại. Tại Việt Nam, khi ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (năm 2000). Thương mại, (Trade, hay commerce) durgc hiéu theo nghĩa rộng. Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại " của Việt Nam (2003) ghi nhận: *Hoạt động thương mại được hiểu là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của các cá nhân, tổ chức kinh doanh như: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ, phân phổ i: đại diện; đại lý thương mụ thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; đầu tr; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hang hóa, khách hàng là các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp ludt” (8, Điều 3]| Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, không tổn tại khái niệm thương mại mà chỉ có khái niêm hoạt động thương mại.
Theo đó, Luật “hương mại của Việt Nam (2005) quy dinh: “Hoat động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gôm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vu, dau ne, xúc tién thương mại và các hoạt động nÍ mục đích sinh lời khác” L13, Điều 3], Từ những nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù đã đưa ra những khái niệm không hoàn toàn giống nhau, nhưng các công trình nghiên cứu và chính sách, pháp luật của nhà nước có những điểm chung. Những điểm chung đó là: Thứ nhất, các ý kiến trên đều cho rằng, thương mại và kinh doanh là hai khái niệm gần nhau nhưng nó không đồng nhất với nhau. thương mại thực chất là được xem xét thông qua các hoạt đông cụ thể, vì vậy khái niệm thương mại là phân ánh các hoạt động thương mại. Kinh doanh là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều hoạt động hoặc để chi một hoạt động nào đó của quá trình, từ sản xuất đến phân phối hàng hóa ra.
thị trường. Trong khi đó, thương mại có phạm vi hep hơn, chỉ hoạt động diễn ra trong khâu phân phối, là nhân tổ trung gian giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng. Thương mại là hoạt động thoát ly hoàn toàn khỏi khâu sản xuất sản. phẩm, mà chỉ là công đoạn bán các sản phẩm do nhà sản xuất sản xuất ra.
12 Nhung dù tham gia vào bắt kỳ một công đoạn nào của quá trình kinh doanh, các nhà đầu tư đều nhằm tìm kiểm lợi nhuận. Vì vậy, về bản chất, thương mại. cũng là kinh doanh. Nói cách khác, kinh doanh là khái niệm bao tràm lên hoạt động thương mại, trong khi khái niệm thương mại là chỉ phạm vi hẹp của kinh doanh.
Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản là thương mại chỉ din ra trong khâu trung gian trao l kiếm lời Thuong mai hay hoạt động thương mại là toàn bộ các hoạt động mua. bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ. xúc tiến thương mại và các hoạt động khác. trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Phân loại hoạt động thương mại Thứ nhất, phân loại theo phạm vi hoạt động thương mại Theo phạm vi hoạt động thương mại, thương mại được phân thành thương mại nội địa (nội thương) và thương mại quốc tế (ngoại thương). “Thuong mai nội địa có thể được phân thành: Thương mại thành thị và thương mại nông thôn, thương mại vùng đặc biệt, thương mại biên giới, thương mại vùng sâu, vùng xa, “Thương mại nội địa phản ánh những quan hệ kinh tế thị trường của các chủ thể kinh tế của một quốc gia. Các hoạt động thương mại nội địa về cơ bản diễn ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia. Thương mại quốc tế bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia có thể ở phạm vi toàn cầu (WTO), có thể ở phạm vi khu vực (EU, ASEAN .) hoặc thương mại song phương giữa 2 quốc gia.
mại quốc tế phản ánh những mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia với nhau. Chúng tuân thủ những luật lệ và những thông lệ buôn bán toàn cầu, khu vực và các hiệp định thương mại ký kết song. phương giữa các quốc gia. Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch.
13 vụ cho nước ngoài và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước. Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ rất lâu, nhưng ngoại thương. chỉ thực sự phát triển trong thời đại Tư bản chủ nghĩa. Ngày nay toàn cầu hóa.
kinh tế thế giới và tự do hóa thương mại là một xu hướng phổ biến, thì sự phát triểi ngoại thương hết sức mạnh mẽ. Ngoại thương không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự trao đổi buôn bán với bên ngoài mà thực chất cùng với các Thương mại nội địa diễn ra trên thị trường nội địa, ngoại thương là hoạt động thương mại diễn ra trên thị trường quốc tế. Thị trường thể giới và thị trường nội địa là những thị trường khác nhau vì vậy thương mại nội địa và ngoại thương được thực hiện theo những hình thức và phương pháp hoàn toàn không giống nhau” [5] “Thứ hai, phân loại theo các khâu của quá trình lưu thông *Theo các khâu của quá trình lưu thông, có thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ" [5, Tr 6}. *Thương mại bán buôn: chủ yếu xây ra trong lĩnh vực buôn bán các sản phẩm vật thể.
Chủ thể của hoạt động thương mại bán buôn là những nhà sản. xuất và thương gia. Chúng phản ánh các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa những nhà sản xuất, giữa nhà sản xuất với thương gia và giữa những người thương gia với nhau. Khi hoàn thành các hoạt động mua bán buôn, hàng hóa vẫn chưa kết thúc quá trình lưu thông, chúng nằm lại trong khâu sản xuất đẻ sau khi kết thúc sản xuất lại tiếp tục quay trở lại lưu thông hoặc vẫn nằm.
trong lưu thông để chờ bán cho người tiêu dùng cuối cùng, ‘Thuong mại bán lẻ: phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ giữa những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thương gia. 14 với bên kia là những người tiêu dùng cuối cùng. Khi hoàn thành các hoạt động mua, bán lẻ hàng hóa sẽ kết thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu đùng để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của xã hội Sự phân biệt giữa thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ chủ yếu dựa vào sự khác biệt theo các khâu của quá trình lưu thông của sản phẩm. Bắt kỳ mối quan hệ thương mại nào mà một bên có sự tham gia của người tiêu dùng cuối cùng, quan hệ thương mại đó thuộc về thương mại bán lẻ và ngược lại thì đó là thương mại bán buôn.
'Các hoạt động bán buôn diễn ra ở các chợ đầu mối. thị trường với trung. tâm buôn bán trong nước và quốc Ngược lại, hoạt động bán lẻ diễn ra ở các chợ, các cửa hàng chuyên doanh, tổng hợp, các siêu thị, hội chợ thương. "5] Thứ ba, phân loại theo đối tượng của hoạt động thương mại Theo đối tượng hoạt động thương mại được phân thành thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ.
“Thuong mai hing hóa và thương mại dịch vụ là những khái niệm phân.