Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về khai thác thủy sản tại quận Sơn Trà, Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý kinh tế và nhà nước trong khai thác thủy sản tại quận Sơn Trà, Đà Nẵng. Nghiên cứu và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
94
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nền tảng quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản

Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản là một quá trình phức tạp, đòi hỏi nền tảng lý luận vững chắc để đảm bảo hiệu quả và bền vững. Đây là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên ngành kinh tế thủy sản. Mục tiêu chính là sử dụng hiệu quả nguồn lực, bảo vệ môi trường và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Theo luận văn của tác giả Trịnh Ngọc Linh (2019), quản lý nhà nước ngành thủy sản bao gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và kiểm tra, giám sát. Các công cụ chủ yếu bao gồm hệ thống pháp luật, như Luật thủy sản năm 2017, cùng các chính sách tài chính, tín dụng và khoa học công nghệ. Vai trò của nhà nước không chỉ dừng lại ở việc ban hành quy định mà còn là tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào chuỗi giá trị. Đặc biệt, tại các địa phương ven biển như quận Sơn Trà, hoạt động này càng trở nên quan trọng, tác động trực tiếp đến kinh tế biển Đà Nẵngsinh kế ngư dân Sơn Trà. Một hệ thống quản lý hiệu quả phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế trước mắt và mục tiêu phát triển bền vững nghề cá lâu dài. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận giúp xác định rõ các nội dung quản lý cần thiết, từ quy hoạch ngư trường, quản lý đội tàu, đến việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đà Nẵng. Đây là tiền đề để phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện công tác quản lý tại địa phương.

1.1. Vai trò của quản lý nhà nước đối với kinh tế xã hội

Quản lý nhà nước về khai thác thủy sản giữ vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động này cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào, đảm bảo an ninh lương thực và góp phần chuyển đổi cơ cấu bữa ăn. Đồng thời, đây là lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm, đặc biệt cho lao động ven biển, giúp xóa đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế ngư dân Sơn Trà. Sản phẩm thủy sản cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến xuất khẩu, mang lại giá trị kim ngạch lớn, đóng góp vào cơ cấu kinh tế quận Sơn Trà. Ngoài ra, các đội tàu khai thác xa bờ không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ an ninh, chủ quyền biển đảo. Do đó, một cơ chế quản lý hiệu quả sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế ngành thủy sản và ổn định xã hội.

1.2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quản lý khai thác thủy sản

Hiệu quả của công tác quản lý nhà nước chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Thứ nhất là hệ thống chính sách khai thác hải sản từ trung ương đến địa phương, nếu chính sách khả thi và đồng bộ sẽ tạo động lực phát triển. Thứ hai là điều kiện kinh tế - xã hội; một nền kinh tế phát triển sẽ có nguồn lực tốt hơn để đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và hỗ trợ ngư dân. Thứ ba là điều kiện tự nhiên, bao gồm sự đa dạng của nguồn lợi và các yếu tố môi trường, khí hậu. Cuối cùng là yếu tố con người, bao gồm trình độ, nhận thức và sự tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác. Tất cả các yếu tố này cần được xem xét toàn diện để xây dựng giải pháp quản lý nghề cá phù hợp.

1.3. Nội dung cốt lõi trong quản lý hoạt động khai thác thủy sản

Nội dung quản lý nhà nước bao gồm nhiều hợp phần quan trọng. Đầu tiên là công tác quy hoạch, phân vùng khai thác dựa trên trữ lượng nguồn lợi và đặc điểm sinh thái. Tiếp theo là xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tiêu biểu là hoàn thiện pháp luật thủy sản. Công tác tổ chức thực hiện bao gồm việc quản lý tàu cá, cấp phép, và xây dựng các mô hình tổ đội sản xuất. Một nội dung không thể thiếu là thực hiện các biện pháp bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, chống khai thác hủy diệt. Cuối cùng, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm phải được tăng cường để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, hướng tới mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học biển Sơn Trà.

II. Thách thức trong quản lý khai thác thủy sản quận Sơn Trà

Mặc dù có tiềm năng lớn, công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn quận Sơn Trà giai đoạn 2014-2018 đối mặt với không ít thách thức. Thực trạng ngành thủy sản Sơn Trà cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu tàu thuyền. Luận văn chỉ ra rằng phần lớn là tàu công suất nhỏ, hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, gây áp lực lớn lên nguồn lợi gần bờ và làm suy giảm hệ sinh thái. Tình trạng khai thác tận diệt, sử dụng ngư cụ bị cấm vẫn còn diễn ra, gây ra tác động môi trường của đánh bắt cá tiêu cực. Một thách thức lớn khác là các chính sách khai thác hải sản hỗ trợ ngư dân còn thiếu đồng bộ, nhiều chính sách mang tính hình thức, chưa thực sự giải quyết được khó khăn cho bà con. Việc tổ chức các mô hình tổ đội, nghiệp đoàn gặp nhiều vướng mắc do thiếu cơ chế hướng dẫn và hỗ trợ cụ thể. Hạ tầng nghề cá, đặc biệt là cảng cá Thọ Quang, tuy là trung tâm dịch vụ hậu cần lớn nhưng vẫn cần được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận ngư dân về bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đà Nẵng còn hạn chế, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật. Những thách thức này đòi hỏi vai trò của chính quyền địa phương phải được phát huy mạnh mẽ hơn nữa.

2.1. Bất cập trong cơ cấu tàu thuyền và phương thức khai thác

Một trong những vấn đề nổi cộm là cơ cấu tàu thuyền chưa hợp lý. Số lượng tàu cá công suất nhỏ khai thác ven bờ chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản non và phá hủy môi trường sống của các loài. Các nghề khai thác truyền thống như lưới kéo, mành, đáy có quy mô nhỏ, đa nghề, gây khó khăn cho công tác kiểm soát. Việc chuyển đổi từ khai thác gần bờ sang xa bờ diễn ra chậm, một phần do chi phí đầu tư lớn và rủi ro cao. Thực trạng này đòi hỏi phải có các giải pháp quản lý nghề cá quyết liệt hơn để tái cơ cấu đội tàu.

2.2. Hạn chế trong việc thực thi chính sách và pháp luật

Công tác thực thi pháp luật và các chính sách hỗ trợ còn nhiều hạn chế. Việc thanh tra, kiểm tra trên biển chưa thường xuyên và bao quát, khiến tình trạng vi phạm vẫn xảy ra. Các chính sách hỗ trợ của nhà nước về vốn, bảo hiểm, nhiên liệu đôi khi chưa đến được đúng đối tượng hoặc thủ tục còn rườm rà. Việc áp dụng phương pháp quản lý cộng đồng trách nhiệm trong khai thác thủy sản ven bờ chưa được triển khai hiệu quả. Điều này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật thủy sản và nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng, đặc biệt là lực lượng kiểm ngư và chính quyền cấp phường.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách khai thác thủy sản bền vững

Để giải quyết các thách thức, việc hoàn thiện chính sách là yêu cầu cấp bách cho quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản tại Sơn Trà. Trọng tâm là xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, có tính thực tiễn cao, hướng tới phát triển bền vững nghề cá. Cần rà soát, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ hiện có, đảm bảo chúng thực sự khuyến khích ngư dân chuyển đổi sang các nghề khai thác thân thiện với môi trường và vươn khơi bám biển. Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào việc hiện đại hóa tàu cá, ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị sản phẩm trong chuỗi giá trị thủy sản. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế tài chính đặc thù để hỗ trợ các mô hình tổ đội, hợp tác xã hoạt động hiệu quả, tăng cường liên kết và hỗ trợ nhau trên biển. Đặc biệt, chính sách phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học biển Sơn Trà. Cần có quy định rõ ràng về trách nhiệm của cộng đồng trong việc quản lý và bảo vệ nguồn lợi ven bờ, trao quyền nhiều hơn cho các tổ chức cộng đồng. Vai trò của chính quyền địa phương là then chốt trong việc đề xuất và triển khai các chính sách này sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của quận.

3.1. Xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp

Cần xây dựng các chính sách cụ thể để hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ các nghề khai thác ven bờ, có tính hủy diệt cao sang các nghề khai thác xa bờ hoặc các ngành nghề khác như dịch vụ hậu cần, du lịch sinh thái. Chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ tín dụng ưu đãi để đóng mới tàu công suất lớn, đào tạo nghề, và tạo sinh kế thay thế bền vững. Việc này không chỉ giảm áp lực lên vùng biển ven bờ mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế ngành thủy sản và thu nhập cho người dân.

3.2. Hoàn thiện cơ chế đồng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Chính sách cần khuyến khích và tạo khung pháp lý cho mô hình đồng quản lý, trong đó cộng đồng ngư dân và chính quyền cùng tham gia vào việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đà Nẵng. Cần quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, trao quyền cho cộng đồng trong việc giám sát hoạt động khai thác tại địa phương. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật, pháp lý và tài chính ban đầu để các mô hình này có thể vận hành ổn định, góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân.

IV. Tăng cường hiệu quả quản lý tàu cá và bảo vệ nguồn lợi

Bên cạnh chính sách, việc tăng cường hiệu quả quản lý thực thi là giải pháp trực tiếp để cải thiện thực trạng ngành thủy sản Sơn Trà. Công tác quản lý tàu cá phải được siết chặt, từ đăng ký, đăng kiểm đến giám sát hoạt động trên biển. Việc áp dụng công nghệ hiện đại như hệ thống giám sát hành trình (VMS) cho tàu cá xa bờ cần được đẩy mạnh để kiểm soát vùng hoạt động, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Lực lượng chức năng cần tăng cường tuần tra, kiểm soát, đặc biệt tại các khu vực nhạy cảm về sinh thái và các bãi đẻ. Việc xử lý vi phạm phải nghiêm minh, đủ sức răn đe. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức cho ngư dân. Hoạt động tái tạo nguồn lợi, như thả giống bổ sung, phục hồi rạn san hô, cần được triển khai thường xuyên với sự tham gia của cộng đồng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, bộ đội biên phòng và chính quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành công của các biện pháp này, nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững nghề cá.

4.1. Hiện đại hóa công tác đăng ký và giám sát hoạt động tàu cá

Cần số hóa toàn bộ dữ liệu về tàu cá để việc quản lý được thuận tiện và chính xác. Việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình phải trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các tàu cá có chiều dài theo quy định. Dữ liệu từ hệ thống này giúp cơ quan chức năng theo dõi, phát hiện sớm các hành vi vi phạm vùng khai thác, đồng thời hỗ trợ hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển, đảm bảo an toàn cho ngư dân.

4.2. Nâng cao năng lực tuần tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Cần đầu tư trang thiết bị, phương tiện và nhân lực cho các lực lượng chức năng như Chi cục Thủy sản, Kiểm ngư và Biên phòng. Các đợt tuần tra, kiểm tra chung giữa các lực lượng cần được tổ chức thường xuyên hơn. Quy trình xử lý vi phạm cần được công khai, minh bạch. Việc áp dụng các biện pháp mạnh như tịch thu ngư cụ, phương tiện vi phạm và thu hồi giấy phép khai thác vĩnh viễn đối với các trường hợp tái phạm nhiều lần sẽ góp phần lập lại trật tự trong hoạt động khai thác.

V. Đánh giá hiệu quả kinh tế ngành thủy sản tại quận Sơn Trà

Luận văn đã cung cấp những số liệu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế ngành thủy sản tại quận Sơn Trà trong giai đoạn nghiên cứu. Mặc dù tổng sản lượng có xu hướng tăng, nhưng hiệu quả trên một đơn vị công suất (CPUE) lại có dấu hiệu giảm, đặc biệt ở vùng ven bờ. Điều này cho thấy nguồn lợi đang bị khai thác quá mức và chi phí cho mỗi chuyến biển ngày càng tăng cao. Chuỗi giá trị thủy sản tại địa phương còn tồn tại nhiều điểm yếu, chủ yếu là khâu bảo quản sau thu hoạch và chế biến. Công nghệ lạc hậu làm giảm chất lượng sản phẩm, dẫn đến giá bán thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và sinh kế ngư dân Sơn Trà. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra tiềm năng lớn nếu có sự chuyển dịch đúng hướng. Các đội tàu khai thác xa bờ, dù chiếm số lượng ít hơn, nhưng lại mang lại giá trị kinh tế cao hơn và sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Đầu tư vào hạ tầng hậu cần tại cảng cá Thọ Quang và các cơ sở chế biến sẽ giúp gia tăng giá trị cho sản phẩm. Việc đánh giá này là cơ sở thực tiễn quan trọng để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định phù hợp, thúc đẩy ngành thủy sản phát triển theo chiều sâu.

5.1. Phân tích sản lượng và cơ cấu tàu thuyền giai đoạn 2014 2018

Số liệu từ luận văn cho thấy, trong giai đoạn 2014-2018, tổng số tàu thuyền tại Sơn Trà tăng, đặc biệt là sự gia tăng về tổng công suất, phản ánh xu hướng đầu tư vào các tàu lớn hơn. Cụ thể, đến cuối năm 2018, tổng số tàu là 1.223 chiếc với tổng công suất 286.726CV. Cơ cấu tàu thuyền có sự chuyển dịch tích cực khi tăng số lượng tàu khai thác xa bờ và giảm tàu ven bờ. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch này còn chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ nguồn lợi ven bờ một cách triệt để.

5.2. Tác động của hoạt động khai thác đến sinh kế của ngư dân

Hoạt động khai thác thủy sản là nguồn thu nhập chính của hàng nghìn hộ gia đình tại Sơn Trà. Tuy nhiên, thu nhập này thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, thời tiết và sự biến động của nguồn lợi. Việc giá nhiên liệu tăng cao trong khi giá sản phẩm không tăng tương xứng đã làm giảm lợi nhuận của ngư dân. Các tàu khai thác ven bờ có thu nhập bấp bênh hơn so với các tàu xa bờ. Cải thiện sinh kế ngư dân Sơn Trà đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ từ việc nâng cao hiệu quả khai thác đến việc tạo thêm các nguồn thu nhập phụ.

VI. Hướng phát triển bền vững nghề cá cho quận Sơn Trà Đà Nẵng

Dựa trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, hướng đi tương lai cho quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản tại Sơn Trà là phải kiên định với mục tiêu phát triển bền vững nghề cá. Điều này đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Định hướng chiến lược là tiếp tục tái cơ cấu ngành theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng và chế biến sâu. Cần giảm mạnh cường lực khai thác ven bờ, chuyển đổi lao động sang các ngành nghề bền vững hơn. Kinh tế biển Đà Nẵng cần được phát triển một cách tổng thể, trong đó ngành thủy sản là một mắt xích quan trọng. Cần xây dựng Sơn Trà trở thành một trung tâm nghề cá hiện đại, có trách nhiệm, gắn liền với thương hiệu du lịch biển của thành phố. Tương lai của ngành thủy sản Sơn Trà phụ thuộc vào việc triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp quản lý nghề cá đã được đề xuất. Đây là một quá trình lâu dài, cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng ngư dân, vì một ngành kinh tế biển thịnh vượng và bền vững.

6.1. Định hướng tái cơ cấu ngành và giảm áp lực khai thác ven bờ

Trong tương lai, cần tiếp tục thực hiện lộ trình cắt giảm số lượng tàu cá hoạt động ven bờ một cách quyết liệt. Thay vào đó, khuyến khích phát triển các mô hình nuôi biển công nghệ cao, nuôi các loài có giá trị kinh tế lớn. Đồng thời, cần quy hoạch và bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực bảo tồn biển, các bãi giống, bãi đẻ tự nhiên để nguồn lợi có điều kiện phục hồi. Bảo tồn đa dạng sinh học biển Sơn Trà phải được xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.

6.2. Tầm nhìn đến năm 2030 Gắn kết khai thác với du lịch và dịch vụ

Tầm nhìn đến năm 2030, ngành thủy sản Sơn Trà không chỉ là khai thác mà cần gắn kết chặt chẽ với du lịch và dịch vụ hậu cần. Phát triển các tour du lịch trải nghiệm câu cá, tham quan làng chài truyền thống, thưởng thức ẩm thực hải sản tươi sống tại cảng cá Thọ Quang. Xây dựng chuỗi giá trị thủy sản hoàn chỉnh từ khai thác, chế biến đến tiêu thụ, tạo ra các sản phẩm có thương hiệu, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Việc này sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao và nhiều việc làm mới, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế biển Đà Nẵng.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn quận sơn trà thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác. Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản quận Sơn Trả Chương 3: Các giải pháp Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy. sản quận Sơn Trà. 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE HOAT DONG KHAI THAC THUY SAN 1.1, NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY HOAT DONG KHAI THAC THUY SAN 1.

Một số khái niệm. Quản lý Nhà nước “Quản lý nhà nước là một quá trình trong đó các cơ quan của hệ thống, bộ máy quyền lực của một quốc gia từ cấp Trung ương đế: cơ sở thực hiện các tác động vào. ối tượng là: hệ thống các tô chức kinh tế, các doanh. nại các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ gia đình trong xã hội bằng công cụ hành chính, và các biện pháp phi hành chính nhằm đạt tới mục tiêu phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy hoạch, kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường” [9] ~ Các yếu tố cấu thành quản lý Nhà nước.

Trong Chương §: Quản lý Nhà nước ngành thủy sản -Giáo trình Kinh tế Thủy sản- của tác giả Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung ~ Trường Đại học kinh tế Quốc dân, bao gồm các yếu tố: “Chủ thể quản lý nhà nước: là Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các yếu tố: Hệ thống tổ chức bộ máy công quyền từ Trung ương đến cơ sở được hình thành theo nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định bao gồm các cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách pháp luật, kế hoạch và các cơ quan thực thi kế hoạch, pháp luật, Các cơ chế nguyên tắc và chế độ hoạt động của bộ máy công quyền; nguồn lực của bộ máy công. quyền bao gồm các công chức, viên chức, những người thừa hành công vụ và " những người phục vụ cho các hoạt động khác nhau của các cơ quan, bộ phận của bộ máy công quyển trong quá trình thực thỉ chức năng quản lý nhà nước. Các đối tượng của quản lý nhà nước bao gâm: Các tỗ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận; các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công tác và các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận; các tổ chức phi Chính phủ hoạt động vì sự phát triển của cộng đồng xã hội Các công cụ chủ yếu của Chính phú: Hệ thỗng pháp luật và bộ máy thực thi pháp luật; các công cụ tài chính tiền tệ; hệ thống kinh tế. Các công cu để thực hiện quản lý nhà nước: Hệ thống văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành; hệ thống văn bản chế độ chính sách do các cơ quan công quyền trong bộ máy nhà nước ban hành theo thẩm quyển của mình theo quy định của pháp luật 'Yêu cầu của việc xây dựng hệ thống pháp luật là bảo vệ và mang lại lợi ích tối đa cho cả Nhà nước và các đối tượng bị quản lý (các tổ chức kinh tế, tổ.

chức xã hội, doanh nghỉ , hộ gia đình.) 'Yêu cầu của việc xây dựng, hoạch định các chính sách kinh tế và xã hội là phải thúc đẩy tạo ra sự phát triển bền vững của nền kinh tế, môi trường tự nhiên và các giá trị văn hóa xã hội mang bản sắc dân tộc. Các chính sách kinh tế gồm có: chính sách đất đai, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, tài chính, chính sách khoa học, công nghệ: chính sách thị trường, chính sách bảo hiểm rủi ro kinh doan. Các chính sách xã hội bao gồm: chính sách việc làm và. thu nhập dân cư; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách giáo dục, đào tao; chính sách xóa đói, giảm nghòo.

Quản lý Nhà nước về kinh tế “Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân hoặc viết tắt Quan bi nhà nước vẻ kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà 12 nước lên nên kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguôn lực kinh tễ trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được các mục tiểu phát triển kinh tế đắt nước đã đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng. giao lưu quốc tế. Quản lý kinh tế là nội dung cắt lồi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác cuả xã hội. Quản tý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản ý kình tế của Nhà nước".

|9, Tr 21] ~ Quản lý khai thác thủy sản: Vào cuối những năm 40 của thế kỷ 20. thuật ngữ “quản lý nghề cá” được các nước có nghề cá phát triển ở châu Âu. đề cập nhiều, nhằm có thoả thuận thống nhất về lĩnh vực quản lý nghề khai thác cá biển. Theo tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO - Food and Agriculture Organization) thì khái niệm quản lý nghề cá được hiểu như sau Quản lý nghệ cá là một quá trình tổng hợp về thu thập thông tin, phân tích, quy hoạch, tư vấn, ra quyết định, phân bổ nguôn lợi, xây dựng và thực hiện các quy định hoặc các luật lệ và thí hành khi cần thiết, nhằm quản lý: các.

hoạt động khai thác đề đảm bảo năng suất tiếp tục của nguồn lợi và đạt được. các mục tiêu khác về khai thác thúy sản. Hội thảo quốc tế về nghề cá có trách nhiệm ở thành phố Cancun, nim 1992 (Mexico) đã thống nhất: Quản lý nghề cá là “Hoàn thiện việc sử dụng bằn vững nguẫn lợi thuỷ sản hài hoà với môi trường; thực hiện nuôi trằng và đánh bắt không gây hại cho hệ sinh thái, nguồn lợi và chất lượng, kết hợp giá trị gia tăng. với các sản phẩm thông qua quá trình vận chuyển để đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh cần thiết; quản lý các hoạt động thương mại để cung cắp cho khách hang sản phẩm có chất lượng >6] 3 Tir hai quan nigm trén, c6 thé khái quát quản lý khai thác thủy sản đó là việc 1.

Điều tra đánh giá năng lực thủy sản 2. Lập chính sách và để ra mục tiêu quản lý 3. Lựa chọn và thực hiện các biện pháp quản lý, tái tạo nguồn lợi thủy. sản cũng như bảo vệ chúng.

Tư vấn và hiệp thương với những người đánh bắt hoặc nhóm người có liên quan (trực tiếp hoặc không trực tiếp) đối với nguồn lợi thủy sản. Tham gia tư vấn với những người sử dụng nguồn lợi thủy sản 6. Báo cáo cho chính quyền, ngư dân và cộng đồng vẻ tình trạng của. nguồn lợi thủy sản và biện pháp đã, đang và sẽ áp dụng.

Thiết lập hệ thống giám sát nhằm theo dõi việc tuân thủ các qui định. đã được ban hành trong hoạt động thủy san ~ Quản lý Nhà nước về hoạt động khai c thủy sản: *đó là việc nhà nước sử dụng các công cụ hành chín, phi hành chính nhằm quản lý hoạt động khai thác thủy sản do các tổ chức, hộ gia đình thực hiện sao cho đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhưng không làm tốn hại đến môi trường thiên nhiên như gây ô nhiễm hoặc làm cạn kiệt nguồn nước. Đồng thời điều chỉnh các. hoạt động của con người sống tại chỗ và những người tham quan, du lịch được hưởng lợi mà không làm cho các nguồn lợi thủy sản tự nhiên bị mắt đi hoặc bị tổn hại, cũng như tạo các điều kiện về vật chất, tinh thin dé không.

ngừng phát triển các nguồn lợi thủy sản đã có và ngày một da dạng hơn”[7] 1. Đặc điểm Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản a. Đặc điểm nghề khai thác thủy sản ~ Nguồn lợi hải sản Việt Nam đa dạng, phong phú và quần đoàn rất khác nhau, cho nên đặc tính này thường gây khó khăn cho các hoạt đông khai 14 thác khi phải lựa chọn các thông số kỹ thuật cho ngư cụ phủ hợp với từng loại đặc tính khác nhau. Các thông số kỹ thuật phải làm sao vừa có tính kinh tế, đánh bắt được nhiều lại vừa có tính chọn lọc cao để bảo vệ nguồn lợi.

Một năm thường có 2 mùa khai thác: vụ Nam và vụ Bắc phụ thuộc vào gió mùa Tây Nam và Đông Bắc. Vì vậy, nghề đánh bắt cá ở Việt Nam là một nghề. khai thác đa loài, đội tàu khai thác cũng đa dạng về kích cỡ và trong nhiều trường hợp phải bố trí kiêm ghép nhiều nghề trên một đơn vị tàwu thuyền. Dac tính số lượng loài phong phú nhưng số lượng cá thể mỗi loài không.

nhiều, cũng gây khó khăn cho tổ chức chế biến, bởi vì mỗi mẻ lưới, mỗi chuyến biển phải mắt nhiều công phân loại cá, tôm. Chất lượng và số lượng. nhiều khi không đáp ứng yêu cầu của chế biến công nghiệp. ~ Mặc dù vùng nước ven bờ có độ sâu dưới 30m chỉ chiếm một diện tích gần 17% tổng diện tích thềm lục địa nước ta nhưng đã phải chịu áp lực khai thác rất cao dẫn đến nguồn lợi vùng ven bờ cạn kiệt.

Chỉ riêng vùng. Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ được coi là vùng sinh thái có sản lượng khai thác cao nhất, hang năm có thé đạt tới trên 60% tổng sản lượng khai thác hải sản ở nước tà ~ Nguồn lợi hải sản nước ta nhìn chung không giàu, càng xa bờ mật độ. hải sản cảng giảm, nguồn lợi hải sản cảng nghèo. Thực tế khai thác xa bờ cho.

thấy: lượng cá tiêu chuẩn xuất khẩu thấp. Vùng khai thác xa bờ có nguồn lợi phân tán, quần tụ đàn nhỏ nên khó khan cho khai thác công nghiệp dạt hiệu quả cao. Thêm vào đó, các điều kiện khí hậu thủy văn vùng biển lai rit khắc nghiệt, nhiều giông bão làm cho nghề khai thác thêm nhiều rủi ro và tăng. 'thêm chỉ phí sản xuất.

~ Đời sống ngư dân ven biển nhìn chung là thấp, đông con, thiếu việc lâm. Áp lực kinh tế đã tạo ra tỉnh trạng khai thác hủy diệt nguồn lợi bằng, nhiều hình thức, đặc biệt nguy hiểm là sử dụng chất nổ, xung điện và xianua. Đặc điểm quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản Đó là thực thi quyền lực công và nhân danh Nhà nước về các hoạt động. khai thác hãi sản.

Hiện nay Quản lý Nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản đã có sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng. Tuy nhiên, quản lý về hoạt động khai thác thủy sản vẫn. thể hiện được bản chất riêng của Nhà nước. Các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác thuỷ sản phải tuân theo quy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ