Chương 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quả lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Savanakhet, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, xác định nguyên nhân. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp đề nâng cao hiệu quả Quản lý nhà nước về đầu tư trực nước ngoài tại tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2025. 13 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LU CUA QUAN LY NHA NUOC VE DAU TU" TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.
KHÁT QUÁT CHUNG VẺ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈẺ ĐẦU TƯ. TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Khái niệm * Khái niệm đâu tr Trong nghiên cứu về đầu tư, ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về đầu tư có nhiều điểm khác biệt Điển hình như: Theo Nguyễn Ngọc Mai với Giáo trình Kinh tế đầu tư thì “Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất trí tuệ) nhằm đạt được kết quả có lợi ích cho người đầu tư trong tương lai” [7].
Định nghĩa này nêu được đặc tính khái quát của đầu tư là hành vi bỏ vốn trong hiện tại nhằm đạt được lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, cách tiếp cận của định nghĩa này khá rộng dễ gây nhằm lẫn giữa hành vi lao động bình thường với hành vi đầu tư thực sự của chủ đầu tư. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội (KT-XH) kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về đầu tư như sau: “Đâu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguôn lực vật chất, nguôn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội ”.
* Khái niém dau tw truc tiép meéc ngodi (Foreign Direct Investment — 14 FDI) Đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện dưới các hình thức đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư trực tiếp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản lữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thẻ nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào. quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư. [6] Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và nhanh.
chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại lợi ích cho cả người đầu tư và người tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. [6] Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế thì: “EDƒ là một khoán đâu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nên kinh tế (NDT trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. [6] 15 Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào. sửa đổi năm 2004, số 11/QH ngày 22/10/2004 thì “Đâu fư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là thu hút vốn gồm có tài sản, công nghệ và nhân lực của nước ngoài vào CHDCND Lào với mục đích kinh doanh ”. [15] “Trên cơ sở các định nghĩa khác nhau về FDI, luận văn rút ra khái niệm chung nhất về FDI là: “hoạt động đầu tư trực tiếp nhằm mục tiêu lợi nhuận của chủ thể đầu tư nước ngoài tại một quốc gia nhất định, bao hàm cả việc đầu tư vốn và trực tiếp quản lý kinh doanh số vốn đó ”.
[6] * Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tr trực tiếp nước ngoài “Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dé đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật”. [2] “QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chỉ phối, v. để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định”. [2] Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng vào quá trình đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nước ngoài nói riêng.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cũng tuân theo. những nguyên lý chung về Quản lý nhà nước về kinh tế, nhưng cũng có những nét đặc thù riêng. Nét đặc thù này xuất phát từ đặc điểm nội tại của hoạt động FDI, đồng thời cũng xuất phát từ điều kiện và yêu cầu riêng về quản lý FDI của Nhà nước. Vậy: “QLNN về FDI là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực 16 nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các DN có vốn FDI và hoạt động thu hút đâu tư nước ngoài nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật.
Công tác QLNN đã tạo ra một trật tự nhất định và sự ồn định cho các đối tượng mà nó quản lý, trong đó có các DN có vốn FDI, đưa các đối tượng đó vào một quy luật vận động chung dưới sự kiểm soát của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyên để đảm bảo cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật về đâu tu, hoạt động của DN và phù hợp với định hướng chung trong phát triển kinh tế- xã hội của nước sở tại”. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân loại ra nhiều hình thức khác nhau: * Phân loại theo hình thức đầu tư ~ Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) đi hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào. Hình thức FDI này có đặc điểm: + Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ. + Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một công ty mới + Thời gian của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanhvà sự cần thiết để hoàn thành.
17 mục tiêu của hoạt đồng. Vn dé von kinh doanh không nhất quyết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: xí nghiệp và công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. Một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh.
Điểm của hình thức liên doanh này là: + Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm h u hạn. + Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quan lý của công ty, xí nghiệp kinh doanh được quy định tuy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước. + Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ra theo tỷ lệ góp vốn. - Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài: là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở. hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cỗ phần. [9] Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay 18 được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận. - Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; iết thời hạn, nhà đầu tư chuyền giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước.
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự.