Chương I. Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về đất đai. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐÁT ĐAI 1. NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG VÈ ĐÁT ĐAI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÁT ĐAI 1. Khái niệm về đất đai. Đất đai là một loại tài nguyên tự nhiên, một loại tài nguyên sản xuất, bao.
gồm cả lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất. Theo quan điểm kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm nước mặt đất và nước ngầm, thô nhưỡng, thực vật và động vật. Với nghĩa chung nhất, đó là lớp bề mặt của trái đất, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, cây rừng, bãi hoang, mặt nước, đầm lầy và bãi đá. Với nghĩa hẹp thì đất đai biểu hiện khối lượng và tính chất của quyền lợi hoặc tài sản mà một người có thê chiếm đối với đất.
Nó có thể bao gồm lợi ích trên đất về mặt pháp lý cũng như những quyền theo tập quán không thành văn. [17] *Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguôn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phân quan trọng hàng đâu của môi trường sống, là địa bàn phân bó khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian”.[18] Đất đai ở nước ta bao gồm nhiều loại. Điều 10 luật đất đai năm 2013 quy định: “Căn cứ vào mục đích sử dụng, đắt đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đắt sau đây: Đắt trông cây hàng năm gồm đất trằng lúa và đất trông cây hàng năm khác; Đắt rừng sản xuất; Đắt rừng 13 phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đắt nuôi trồng thủy sản; Đắt làm muối; Đắt nông nghiệp khác.Nhóm đất phi nông nghiệp bao gầm các loại đất sau đây: Đắt ở gầm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đắt xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đắt xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác;.
Nhóm đất chưa sử dụng g6m các loại đắt chưa xác định mục đích sử dụng” [8] 1. Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai Bộ Luật Dân sự quy định “ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. “Từ khi Luật Đắt đai thừa nhận quyên sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt. Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất dai, ta tha) có các quyên sử dụng đất đai, quyên định đoạt đất đai.
Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất dai. Nha nước không trực tiếp thực hiện các quyên năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước" [12] Quản lý nhà nước đối với đất đai là “ sống hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyên để thực hiện và bảo vệ quyển sở hữu Nhà nước về đất đai; đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất: trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đắt" [12] 14 1. Vai trò của Quản lý Nhà nước về đất đai Đất đai là được xem là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở để phát triển sản xuất, có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vai trò của nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết đề điều hoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là nhà nước và người sử dụng đắt, đảm bảo quyền lợi và đúng quy định của pháp luật.
Vai trò quản lý của nhà nước là nguồn tài nguyên hữu hạn, chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi phải có sự cân nhắc hợp lý, đảm bảo yêu cầu và kiệm nguồn tài nguyên. Để đạt được điều đó, đòi hòi việc xây dựng, lập và ban hành các hoạch định chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đắt, phân bổ chỉ tiêu đất đai phải đáp ứng được nhu cầu đời sống xã hội, điều kiện kinh tế của từng địa phương. Quy hoạch sử dụng đất hiệu quả sẽ là cơ sở để thực hiện tốt quản lý Nhà nước về quy hoạch, là cơ sở để thực hiện giao đất, cho thuê đất, đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời là giải pháp hạn chế được tinh trang xâm lắn, sử dụng đất tự phát không theo quy hoạch, gây lãng phí nguồn tài nguyên và nhân lực ~ Thông qua công tác thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm giúp nhà nước. đánh giá được hiện trạng sử dụng đất và là căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho kỳ tiếp theo, giúp nhà nước nắm được quỹ đất hiện có, biến động hiện trạng sử dụng đất qua từng năm, đề từ đó xác định chất lượng đất, mức độ thích nghỉ, hiệu quả kinh tế xã hị năng đất đai.
-_ Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, bất kì một lĩnh vực, một hoạt động kinh doanh nào cũng đều phải tuân theo quy định của pháp luật, lĩnh vực đất đai cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Đắt đai và các văn bản hướng dẫn có liên quan giúp hoạt động quản lý được ồn định, có nề nếp, vừa tạo sự công bằng, đảm 15 bảo lợi ích chính đáng cho bên sử dụng đắt đai. “Thông qua việc ban hành và tô chức thực hiện pháp luật đất đai, nhà nước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyên và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong quan hệ về đất đai. Bằng hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy, nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các đối tượng sử dụng.
Trên cơ sở đó nhà nước điều chỉnh hành vi của các đối tượng sử dụng đất, hành vi nào là hợp pháp. hành vi nào là không hợp pháp"[15] - Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như chính sách giá cả, chính sách thui iu tư, chính sách tiền tệ, tín dụng. nhà nước kích thích các chủ thể kinh , các cá nhân sử dụng đầy đủ hợp lý đất đai, tiết kiệm đất nhằm nâng cao khả năng sinh lời cua dat, dé góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã họi của cả nước và để bảo vệ môi trường. Các chính sách đất đai là những công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý trong từng giai đoạn nhất định.
Nhà nước tạo môi trường thông thoáng, cải cách các thủ tục đầu tư, điều chinh các công cụ quản lý đó để tăng đầu tư vào đất [10] ~_ Trong quá trình quy hoạch, quản lý và sử dụng đắt đai không thẻ tránh khỏi những sai phạm. Nhờ việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đắt, nhà nước kịp thời nắm bắt tình hình về sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm tại địa phương và giải quyết những vi phạm đó. Các nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai Thứ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Ở Việt Nam, bản chất Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tắt cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
Vì vậy, Điều 17, Hiến pháp năm 1992 đã xác định “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, 16 nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân [5] Điều 53 H pháp 2013 quy định như sau: “Đắt đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. [5] Điều 4 Luật đất đai 2013 về sở hữu đất đai có quy định : “Đất đai thuộc. sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Nên nhà nước có đầy đủ quyền năng về sử dụng đất.
Để hình thành quan hệ pháp luật đất đai, Nhà nước cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đai. Thứ hai, Nhà nước thống nhất quản lý đắt đai theo quy hoạch và pháp luật. Trong Điều 18 của Hiến pháp cũng đã xác định rõ quyên lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ôn định lâu dài.
Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” [51 Quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền nhằm thực hiện việc nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ồn định, lâu dài.