Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đắt dai - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum 12 - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đắt đai bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum. 13 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE QUAN LY NHA NUOC VE DAT DAI 1. TONG QUAN VE QUAN LY NHA NUOC VE DAT DAL 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai a.
Khái niệm đất đai Hiện nay, đất đai không chỉ coi là tài nguyên, tài sản mà còn được coi là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào. Đất đai được coi là nguồn vốn của nền kinh tế. Đối với những luật gia đất đai là “một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đắt tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất”. Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đắt đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng; Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương.
máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” [19]. Theo Luật Đất đai 2013, thửa đất là “phần diện tích đất được giới hạn. bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ” [19]. Các Mác viết: “Đắt đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được đẻ sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”.
Hội nghị Bộ trưởng Môi trường các nước Châu Âu năm 1973 tại Luân Đôn đã đánh giá: “Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài 14 người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất”. Theo giáo trình kinh tế tài nguyên đất của Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài (2017), “Đất đai là nguồn của cải, là tài sản có định hoặc đầu tư cố định, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng” [10]. Như vậy, đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vạt khác trên trái đất.
Theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau [19]: + Dat nông nghiệp: là loại đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. + Đất phi nông nghiệp: là những loại đất không sử dụng cho mục đích nông nhiệp như đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sản xuất kinh doanh. + Đất chưa sử dụng: là những loại đất chưa đủ điều kiện hoặc chưa xác định được mục đích sử dụng, được chia thành 3 loại gồm: đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây. Quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước là một thuật ngữ được sử dụng nhiều tại các nước nơi đất đai thuộc quyền sở hữu của Nhà nước đề mô tả cách Nhà nước quản lý đất đai và kiểm soát việc sử dụng đất.
Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau. Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý đất đai, tập trung vào cách thức chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền 15 sử dụng đất [14]. Cụ thể hơn, đây là quá trình Nha nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Bản chất của quản lý nhà nước về đất đai là sự dễ dàng tiếp cận thông.
tin đáng tin cậy, cập nhật về quyền sử dụng, mục đích sử dụng và giá đắt [20] Do đó, kết quả của quá trình quản lý đất đai là phải xây dựng được hệ thống. thông tin được cập nhật liên tục và có iến rộng rãi đến các chủ thể thị trường, chính phủ để quản lý đất đai bền vững. Quản lý nhà nước về đất đai là một khái niệm liên quan đến những nỗ lực của chính phủ đề quản lý tài nguyên đất. Quản lý nhà nước về đất đai gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên.
đất một cách hiệu quả [19]. Đất chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất. Chính phủ cũng có mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như một phần của mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và bền vững xã hội. Quản lý nhà nước về đất đai cũng có thê hiểu là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chỉ tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền, các thuộc tính của đất, cập nhật, cung cấp, lưu trữ những thông tin liên quan về Ỡ hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin liên quan đến thị trường bắt động sản.
Quản lý nhà nước về đất đai gồm một số nội dung như “xác định ranh giới địa hình, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hang dat; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đắt; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyên mục đích sử dụng đất; đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê kiểm kê đất đai; quản lý tài chính về đất đai; quản lý và phát triển bất động sản; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi 16 phạm trong việc quản lý và sử dụng đắt đai; quản lý các dịch vụ công về đai [19]. Như vậy, quản lý đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thâm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai. Đó là hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ at dai [23]. Đặc điểm của đất đai ảnh hưởng đến công tác quan lý nha nước về đất đai Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người, là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp.
Đặc điểm của dat dai anh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu, phân bố của ngành nông nghiệp. Đất đai có một số đặc điểm như sau [8, tr.35]: Diện tích đất đai có hạn. ất đai trên toàn trái đất có một diện tích nhất định và mỗi quốc gia, lãnh thô đều có giới hạn diện tích đất đai riêng. Sự giới hạn đó thể hiện ở nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Do diện tích có hạn nên con người không thể tùy ý sử dụng đất đai. Do đó, quản lý nhà nước về đất đai cần phải quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế, xu hướng. biến động để có kế hoạch phân bồ và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học. Diện tích được sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội.
Việc mở rộng các khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, đô thị, kết cấu hạ tầng, phát triển nông lâm ngư nghiệp,. đều cần đến đất đai. Để đảm bảo cân đối trong phân bổ đất đai cho các ngành, lĩnh vực, tránh sự chồng chéo, lăng phí, cần coi trọng công tác quy hoạch và kế hoạch 17 sử dụng đắt đai, có sự ph lợp chặt chẽ giữa các ngành trong quy hoạch và lập kế hoạch hóa đất đai. Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hóa học và sinh học trong đất không đồng nhất.
Đất đai được phân bồ trên một diện tích rộng và cố định ở từng nơi nhất định. Do nằm có định nên đất đai ở nơi nào sẽ gắn liền với các điều kiện tự nhiên như thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, cây trồng,. của địa phương đó và gắn với các điều kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, kinh tế, công nghiệp trên các vùng và các khu vực. Do đó đất đai có tính chất khác nhau.
Do đó, việc quản lý nhà nước về đất đai sẽ giúp đảm bảo đất đai được sử dụng phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chất lượng ruộng đất của từng vùng băng các chính sách thuế, đầu t. cho phù hợp với điều kiện đất đai của các vùng trong nước. Trong nông nghiệp, nếu sử dụng đất đai hợp lý, sức sản xuất sẽ không, ngừng tăng lên. Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện phương châm thâm canh và chế độ canh tác hợp lý.
Sức sản xuất của đất còn thể hiện ở độ phì nhiêu của đất. Do đó, cần thực hiện quản lý nhà nước về đất đai để đảm bảo đất đai không bị nghèo đi sau mỗi lần sử dụng và duy trì, nâng cao độ phì nhiêu của đất đai để năng suất đất đai tăng lên. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai Những nguyên tắc chủ yếu của quản lý Nhà nước về đất đai gồm [10]: a. Nguyên tắc quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước Dat dai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân.