Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh Gia Lai là địa bàn chiến lược ở Bắc Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 15.536,92 km2, gồm 17 đơn vị hành chính cấp huyện và dân số trên 1.259.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,8% (chủ yếu là dân tộc Bahnar và Jrai). Mặc dù sở hữu gần 500.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, địa phương vẫn đối mặt với thách thức lớn về năng suất và chất lượng việc làm do lực lượng lao động qua đào tạo còn mỏng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2020. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công, phân tích thực trạng tổ chức bộ máy, thể chế, quy hoạch mạng lưới, chương trình và hoạt động thanh tra kiểm tra, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn và nguyên nhân cốt lõi. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp tại địa phương từ năm 2015 đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý, hướng đến nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh lên trên 55% và hỗ trợ hơn 40% lao động nông nghiệp chuyển đổi sinh kế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị hành chính công của Max Weber và lý thuyết hệ thống quản lý của Frederick Taylor để xác định rõ cấu trúc vận hành của cơ quan nhà nước đối với giáo dục nghề nghiệp. Mô hình quản lý nhà nước được thiết lập dựa trên 5 trụ cột chức năng cốt lõi: ban hành và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý, quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo, quản lý chương trình và chuẩn đầu ra, cùng công tác thanh tra kiểm tra chuyên ngành.

Khung lý thuyết làm rõ các khái niệm nền tảng: nghề nghiệp trong danh mục hơn 300 nghề đào tạo quốc dân, đào tạo nghề với đặc thù thời lượng thực hành kỹ thuật bắt buộc chiếm từ 80% đến 90%, và quản lý nhà nước theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 cùng Nghị định số 70/2009/NĐ-CP. Cơ sở lý luận khẳng định sự can thiệp của Nhà nước là công cụ hữu hiệu nhằm khắc phục thất bại thị trường, phân bổ hiệu quả ngân sách công và đảm bảo hơn 80% người học nghề có cơ hội tiếp cận việc làm phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2020. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn diện 17 đơn vị hành chính cấp huyện cùng 15 cơ sở đào tạo nghề, trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và phân tầng toàn bộ các cơ sở công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cũng như đại diện các cơ sở ngoài công lập.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả và so sánh theo chuỗi thời gian là nhằm phản ánh chính xác biến động về quy mô tuyển sinh, cơ cấu trình độ đào tạo và mức độ đáp ứng cơ sở vật chất. Nguồn số liệu được tổng hợp chính thống từ niên giám thống kê tỉnh Gia Lai, báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, các báo cáo tài chính của Sở Tài chính và hồ sơ quản lý của Sở Nội vụ. Thời gian xử lý và hoàn thiện dữ liệu diễn ra từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề được mở rộng nhưng phân bố chưa đồng đều. Đến năm 2020, toàn tỉnh có 15 cơ sở đào tạo nghề tại 17 huyện, thị xã, thành phố, đào tạo cho hơn 25.000 lượt người trong giai đoạn 2015 - 2020, tuy nhiên trên 65% cơ sở tập trung tại thành phố Pleiku và các đô thị lớn.

Thứ hai, cơ cấu trình độ đào tạo mất cân đối nghiêm trọng. Học viên tham gia các lớp sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ áp đảo 78,5%, trong khi trình độ trung cấp và cao đẳng nghề chỉ chiếm 21,5%, gây thiếu hụt kỹ thuật viên có tay nghề cao.

Thứ ba, cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành tại các trung tâm cấp huyện chỉ đạt khoảng 60% so với danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đội ngũ giáo viên còn thiếu hụt khoảng 30% định mức giảng viên chuyên ngành kỹ thuật nông nghiệp hiện đại.

Thứ tư, công tác thanh tra kiểm tra hàng năm bao phủ trên 70% cơ sở đào tạo nghề, qua đó phát hiện và xử lý hơn 12 trường hợp vi phạm quy chế tuyển sinh, lưu trữ hồ sơ và cấp chứng chỉ nghề chưa đúng quy định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do tư duy quản lý còn mang nặng tính bao cấp, nguồn kinh phí đầu tư công giai đoạn 2015 - 2020 phân bổ dàn trải với định mức chi cho một lao động nông thôn chỉ khoảng 2 đến 3 triệu đồng mỗi khóa. Mối liên kết ba nhà giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, khi chỉ có dưới 25% doanh nghiệp địa phương trực tiếp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống bảng thống kê số lượng tuyển sinh hàng năm và biểu đồ cột phân tầng phản ánh sự chênh lệch học viên giữa các huyện. Bảng đối chiếu nguồn kinh phí ngân sách cũng giúp làm sáng tỏ mối tương quan giữa mức độ đầu tư trang thiết bị và tỷ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo.

So với các công trình nghiên cứu của Bùi Đức Tùng (năm 2007) và Nguyễn Đức Tĩnh (năm 2007), thực tiễn tại Gia Lai có tính đặc thù sâu sắc hơn do tỷ lệ lao động người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 44,8%. Điều này chứng minh rằng việc sao chép mô hình đào tạo từ các đô thị lớn sẽ không hiệu quả nếu thiếu các lớp đào tạo nghề gắn với phong tục tập quán và ngôn ngữ bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực bộ máy quản lý. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai chỉ đạo Sở Nội vụ và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội rà soát, ban hành đồng bộ 100% văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn 2021 - 2023, phân định rõ chức năng quản lý giữa cấp tỉnh và 17 Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thứ hai, tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì sắp xếp, sáp nhập các trung tâm giáo dục nghề nghiệp hoạt động kém hiệu quả tại cấp huyện, phấn đấu đến năm 2025 có 100% cơ sở đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng và ít nhất 2 cơ sở đào tạo trọng điểm đạt chuẩn khu vực.

Thứ ba, đổi mới chương trình gắn với nhu cầu thị trường. Các cơ sở đào tạo nghề chủ động ký kết hợp tác với hơn 50 doanh nghiệp chế biến và nông nghiệp công nghệ cao, nâng thời lượng thực hành lên từ 80% đến 85%, cam kết trên 85% học viên tốt nghiệp có việc làm ổn định trong vòng 6 tháng kể từ năm 2022.

Thứ tư, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường tổ chức đào tạo nâng cao kỹ năng cho 100% giảng viên cơ hữu, phấn đấu đến năm 2025 có trên 35% giáo viên đạt chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia từ bậc 3 trở lên.

Thứ năm, tăng cường thanh tra và đẩy mạnh xã hội hóa. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội duy trì thanh tra định kỳ 100% cơ sở đào tạo mỗi năm; đồng thời Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành chính sách ưu đãi tiền thuê đất để thu hút ít nhất 3 dự án đầu tư tư nhân vào dạy nghề giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã: Tài liệu cung cấp bộ 5 tiêu chí quản lý thực tiễn nhằm quy hoạch hiệu quả mạng lưới dạy nghề cho quy mô dân số hơn 1.259.000 người.

Thứ hai, Ban giám hiệu và cán bộ phụ trách đào tạo tại 15 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn: Sử dụng luận văn để tái cấu trúc chương trình giảng dạy, bảo đảm tỷ lệ thực hành từ 80% trở lên và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

Thứ ba, các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư tại khu vực Tây Nguyên: Tham khảo để xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo lao động theo địa chỉ, giúp giảm từ 25% đến 30% chi phí đào tạo lại cho hơn 50 doanh nghiệp liên kết.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị công: Khai thác phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng cùng chuỗi dữ liệu 5 năm (2015 - 2020) phục vụ nghiên cứu quản lý công tại vùng có 44,8% đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề bao gồm những nội dung trọng tâm nào? Quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề gồm 5 nội dung chính: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, kiện toàn tổ chức bộ máy, quy hoạch mạng lưới cơ sở, quản lý chương trình giảng dạy và thực hiện thanh tra kiểm tra. Theo Nghị định số 70/2009/NĐ-CP, việc quản lý hướng đến tối ưu hóa ngân sách và nâng tỷ lệ học viên có việc làm lên trên 80%.

Thực trạng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề tại tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2020 ra sao? Toàn tỉnh Gia Lai duy trì 15 cơ sở đào tạo nghề tại 17 đơn vị hành chính cấp huyện, phục vụ đào tạo cho hơn 25.000 lượt lao động giai đoạn 2015 - 2020. Tuy nhiên, mạng lưới phát triển chưa đồng đều khi hơn 65% cơ sở tập trung ở khu vực đô thị, gây khó khăn cho lao động vùng sâu tiếp cận học nghề.

Tại sao cần điều chỉnh cơ cấu trình độ đào tạo nghề tại địa phương? Giai đoạn 2015 - 2020, học viên sơ cấp nghề và đào tạo dưới 3 tháng chiếm tới 78,5%, trong khi trình độ trung cấp và cao đẳng chỉ chiếm 21,5%. Cơ cấu này dẫn đến thiếu hụt nhân lực tay nghề cao phục vụ thâm canh trên 500.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh, đòi hỏi phải đẩy mạnh đào tạo dài hạn.

Quy định về thời lượng thực hành trong chương trình đào tạo nghề như thế nào? Thời lượng thực hành kỹ thuật bắt buộc phải chiếm từ 80% đến 90% tổng thời gian khóa học theo tiêu chuẩn giáo dục nghề nghiệp. Tại Gia Lai, các cơ sở liên kết thực hành với hơn 50 doanh nghiệp đã giúp học sinh làm chủ máy móc hiện đại và nâng tỷ lệ tuyển dụng sau tốt nghiệp lên trên 85%.

Giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề là gì? Giải pháp then chốt là bồi dưỡng chuẩn hóa cho 100% giáo viên cơ hữu, phấn đấu đạt trên 35% giảng viên có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 vào năm 2025. Đồng thời, tỉnh cần ban hành chính sách thỉnh giảng nghệ nhân để bù đắp khoảng 30% nhân lực giảng dạy chuyên ngành còn thiếu.

Kết luận

Tổng kết các nội dung nghiên cứu chính từ luận văn thạc sĩ của tác giả Trịnh Trung Lương:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề trên 5 trụ cột quản lý công.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng 15 cơ sở đào tạo nghề tại 17 đơn vị hành chính tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2020.
  • Nhận diện rõ hạn chế về trang thiết bị chỉ đáp ứng 60% tiêu chuẩn và tỷ lệ đào tạo sơ cấp chiếm 78,5%.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 55% vào năm 2025.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc phục vụ phát triển nguồn nhân lực cho vùng có 44,8% đồng bào dân tộc thiểu số.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng hệ thống giải pháp gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp địa phương. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các cấp chính quyền và cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Gia Lai cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị này. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm hãy khai thác toàn văn công trình để đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực Tây Nguyên.